Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12/4/2024

V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Nhung (cán bộ hưu trí)

Bà Nguyễn Thị Kim Hường

-Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Đoan Trang – Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 627/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXX-ST ngày 07 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc Thu C, sinh năm: 1983. Có mặt

Địa chỉ: C, tổ G, ấp L, xã P, thành phố M, Tiền Giang.

2/ Bị đơn: Anh Võ Phương T, sinh năm: 1978. Vắng mặt

Địa chỉ: C, tổ G, ấp L, xã P, thành phố M, Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 04/8/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Ngọc Thu C trình bày:

Chị và anh T cưới nhau vào năm 2000, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang vào ngày 11/11/2005. Sau cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc bên quê chị, vợ chồng chung sống tuy có mâu thuẫn nhưng chỉ là những chuyện nhỏ nên vẫn hạnh phúc. Từ khi dịch bệnh đến nay, anh T bắt đầu ăn nhậu bê tha, thường hâm dọa và chửi chị, gia đình có khuyên nhưng anh T không thay đổi. Thời gian đầu chị làm thuê (làm ruộng, vườn), sau này chị xin làm lao công ở Bệnh viện, chị đi làm suốt ngày, có khi trực đêm nên thường đi sớm về tối. Anh T làm thợ hồ, ban ngày ăn nhậu rồi ngủ, ban đêm thì thức nói nhãm và chửi, chị cần nghỉ ngơi mà không nghỉ ngơi được, từ đó cãi nhau thì anh T hâm dọa. Kéo dài nhiều ngày tháng mà anh T vẫn không thay đổi nên chị đã xin nghỉ làm ở Bệnh viện, đi giúp việc nhà ở C, vợ chồng ly thân, không sống chung nhà, không can thiệp vào cuộc sống của nhau. Chị đã cho anh T nhiều cơ hội nhưng anh vẫn không thay đổi, sống ỷ lại. Nay, tình cảm đã hết, chị không thể tiếp tục chung sống với anh T được nữa nên xin được ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung tên Võ Ngọc Tường V, sinh ngày 02/02/2001 và Võ Ngọc Thúy V1, sinh ngày 29/9/2012. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thúy V1, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

*Tại tờ tự khai, biên bản hòa giải ngày 28/11/2023 bị đơn anh Võ Phương T trình bày:

Anh thống nhất thời gian cưới, đăng ký kết hôn như chị C trình bày. Vợ chồng chung sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì lớn. Vợ đang làm ruộng, vườn thì xin đi làm thuê ở Bệnh viện nhưng đi sớm, về khuya, anh có nghe điều tiếng không tốt nên có hỏi thì vợ nói đi làm, bực mình nên anh có ăn nhậu và chửi, có 01 lần lấy dao hâm dọa do vợ cự cãi lớn tiếng. Vợ chồng sống ly thân do vợ đi làm không có về nhà. Anh thấy vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, anh còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung như vợ trình bày. Nếu Tòa án cho vợ ly hôn thì anh đồng ý để vợ nuôi bé Thúy V1, anh không cấp dưỡng mà sẽ có trách nhiệm lo cho con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có

Tại phiên tòa, chị C vẫn giữ yêu cầu khởi kiện như đã trình bày. Anh Thanh vắng mặt không có lý do.

*Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; đối với đương sự: nguyên đơn thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn thực hiện chưa đúng pháp luật tố tụng dân sự.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị C. Về hôn nhân, cho chị C ly hôn với anh T. Về con chung, giao chị C tiếp tục nuôi dưỡng cháu Thúy V1, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung, không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về tố tụng: Anh Võ Phương T được triệu tập dự phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T.
  2. [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Thu C và anh Võ Phương T kết hôn vào năm 2000, có đăng ký kết hôn vào ngày 11/11/2005 tại UBND xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 108, quyển số 01, như vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

    Theo chị C thì vợ chồng chung sống có hạnh phúc thời gian đầu, sau đó thì có nhiều mâu thuẫn do anh T không lo làm ăn mà còn cờ bạc, sau đó thường uống rượu về nhà đánh, chửi vợ con, thậm chí còn hâm dọa giết chị. Hiện chị đi làm thuê không có về nhà mà sống ở nhà cha mẹ ruột, vợ chồng ly thân nhau nay đã gần 01 năm. Trong thời gian khởi kiện, thỉnh thoảng chị có về nhà nhưng anh T vẫn không có thay đổi gì, uống rượu còn nhiều hơn. Chị xác định không còn tình cảm nên cương quyết xin được ly hôn với anh T.

    Kết quả xác minh tại địa phương thì nguyên nhân vợ chồng chị C, anh T mâu thuẫn là do anh T thường xuyên uống rượu, ít lo gia đình.

    Hội đồng xét xử xét thấy, chị C và anh T đã sống ly thân nhau, anh T thừa nhận có uống rượu, có đánh chửi vợ con. Anh T cho rằng còn thương vợ nhưng anh không thay đổi, vẫn còn uống rượu và không lo gì cho gia đình. Tòa án triệu tập xét xử 02 lần nhưng anh vắng mặt không có lý do, điều này chứng tỏ anh không có ý chí mong muốn hàn gắn tình cảm với chị C.

    Xét, về tình nghĩa vợ chồng thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và sống chung với nhau nhưng hiện giữa chị C và anh T không còn tình nghĩa vợ chồng, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó nay chị C xin ly hôn với anh T là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

  3. [3] Về con chung: Có 02 con chung tên Võ Ngọc Tường V, sinh ngày 02/02/2001 (đã trưởng thành) và Võ Ngọc Thúy V1, sinh ngày 29/9/2012. Chị C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thúy V1, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T đồng ý để chị C tiếp tục nuôi dưỡng con chung, anh không cấp dưỡng.

    Xét, cháu Thúy V1 hiện đang do chị C nuôi dưỡng, cháu có nguyện vọng sống chung với mẹ, anh T cũng đồng ý để chị C nuôi con, do đó cần giao cháu Thúy V1 cho chị C nuôi dưỡng.

    Về cấp dưỡng nuôi con: anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị C không yêu cầu.

    Anh T có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.

  4. [4] Về tài sản và nợ chung: đương sự trình bày không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  5. [5] Về án phí: chị C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 147, Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Ngọc Thu C được ly hôn với anh Võ Phương T.
  2. Về con chung: Có 02 con chung tên Võ Ngọc Tường V, sinh ngày 02/02/2001 (đã trưởng thành) và Võ Ngọc Thúy V1, sinh ngày 29/9/2012. Giao chị C tiếp tục nuôi dưỡng cháu Thúy V1.

    Anh Võ Phương T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Võ Phương T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị C không yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc Thu C chịu là 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0024467 ngày 26/10/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang nên xem như nộp xong án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị C có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Võ Phương T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Nơi nhận:

  • -VKSND TP Mỹ Tho;
  • -Chi cục THADS TP Mỹ Tho;
  • -Các đương sự;
  • -UBND xã Long An, CTTG;
  • -Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Bảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger