Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÌN HỒ

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 57/2024/HSST

Ngày: 10/7/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn A Sếnh, Ông Vàng A Măng

Thư ký phiên toà: Ông Hờ A Thái, Thư ký Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Lê Ngọc Trang, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/HSST, ngày 10 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST –HS, ngày 27 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Chẻo A N - Sinh năm: 1986; sinh tại: S, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: bản Trị Xoang, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Chẻo Xoang P– sinh năm: 1955; Con bà: Bàn Mai H – đã chết; Bị cáo có vợ là Chẻo Sì M – sinh năm: 1985( đã ly hôn); bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm: 2005, con nhỏ nhất sinh năm: 2010; Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2010/HSST, ngày 08/01/2010 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt Chẻo A N 30 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2012/HSST, ngày 29/11/2012 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt Chẻo A N 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2018/HSST, ngày 07/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt Chẻo A 07 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2023 đến nay - Có mặt tại phiên tòa

  2. Tẩn Mý L - Sinh năm: 1971; sinh tại: S, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: bản Sìn H, Thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Chẻo Tẩn C – đã chết; Con bà: Chẻo M – Sinh năm: 1940; Bị cáo có 02 chồng là Chẻo A P1 – Sinh năm: 1966 (đã ly hôn) và Phùng Lao S - sinh năm: 1974 (đã ly hôn); bị cáo có 01 con, sinh năm: 1989. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/9/2023 đến ngày 25/9/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Nguyễn Thị N1 -Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L – Có Mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 15/9/2023, tại khu vực nghĩa trang K, thị trấn sìn H, huyện S, tỉnh Lai Châu, Tẩn Mỹ L1 đã mua được 01 gói Heroine của một người phụ nữ khoảng 35 tuổi với số tiền 150.000 đồng. Mua được Heroine L2 cất giấu trong gầm bàn uống nước với mục đích bán cho người nghiện để kiếm lời. Vào khoảng 11 giờ ngày 16/9/2023, Chẻo A, đến nhà T Mý Lai hỏi mua Heroine để sử dụng, qua trao đổi mua bán Heroine Chẻo A đã mua được của T Mý Lai bán cho Chẻo A N2 một phàn Heroine trong gói H1 mua được hôm trước với giá 150.000 đồng. Phần H2 còn lại Tẩn Mỹ L2 gói lại và cầm trên tay. Mua được H3, N2 chia làm 02 gói nhỏ cất giấu vào túi áo bên trái, mặc trên người.

Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Chẻo A đi về đến khu vực sân vận động huyện S, tỉnh Lai Châu thì bị tổ công tác Công an huyện S, tỉnh Lai Châu phát hiện bắt quả tang Chẻo A đang tàng trữ 02 gói chất bột, màu trắng, theo lời khai của Chẻo A N2 đây là Heroine của N2 mua của Tẩn M, N2 mua để sử dụng. Căn cứ lời khai của Chẻo A N2, Cơ quan Điều tra Công an huyện S đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Tẩn M, qua khám xét đã thu giữ 01 gói chất bột màu trắng và thu giữ trong túi quần của Tẩn Mý Lai 02 tờ tiền mệnh giá mỗi tờ là 100.000 đồng. Tẩn Mỹ L2 khai gói chất bột màu trắng là Heroine của T Mý Lai và 200.000 đồng là tiền bán H3, trong đó có 150.000 đồng là tiền bán Heroine cho Chẻo A N2.

Qua xác định khối lượng và giám định chất ma túy, tại kết luận giám định tư pháp số: 85, ngày 16/9/2023 của người giám định theo vụ việc, đã xác định 02 gói chất bột, màu trắng thu giữ của Chẻo A N2 có tổng khối lượng là 0,26 gam; tại kết luận giám định tư pháp số: 86, ngày 16/9/2023 của người giám định theo vụ việc, đã xác định 01 gói chất bột, màu trắng thu giữ của Tẩn Mỹ Lai có khối lượng là 0,04 gam. Tại bản Kết luận giám định số: 1020/GĐ-KTHS, ngày 19/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Chẻo A N2 gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine. Tại bản Kết luận giám định số: 1021/GĐ-KTHS, ngày 19/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của T Mý Lai gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine. Tại bản Kết luận giám định số: 1022/GĐ-KTHS, ngày 20/9/2023, của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Mẫu tiền 200.000 đồng gửi đến giám định là tiền thật.

Cáo trạng số: 33/CT- VKS, ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố các bị cáo Chẻo A N2 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS và Tẩn M về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 251 BLHS

2

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Chẻo A N2 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tẩn Mý L1 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 251 BLHS;

Đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo Chẻo A N2, Tẩn Mý L điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về án phí, lệ phí đối với cả hai bị cáo

Xử phạt bị cáo Chẻo A N2 từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù.

Xử phạt bị cáo Tẩn Mý L1 từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù

Về hình phạt bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo, vì bị cáo có nghề nghiệp trồng trọt, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành.

Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106; BLTTHS. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 mảnh ni lon (trong đó 01 mảnh ni lon màu hồng và 01 mảnh ni lon màu trắng); 02 mảnh giấy vệ sinh màu trắng. Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng tiền thu giữ của Tẩn Mý L1.

Về án phí đề nghị áp dụng theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho các bị cáo, trình bày luận cứ bào chữa, người bào chữa nhất trí với luận tội của kiểm sát viên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo Chẻo A N2Tẩn Mý L1; áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251 BLHS đối với bị cáo Tẩn Mý L1, tuyên bố bị cáo Tẩn Mý L1 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; áp dụng điểm o khoản 2, khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo Chẻo A N2. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo vì bị cáo có điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

Tại phiên tòa, các bị cáo Chẻo A N2Tẩn Mỹ L1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai của các bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu trong hồ sơ vụ án; các bị cáo nhất trí ý kiến bào chữa của người bào chữa không có ý kiến bổ sung thêm; các bị cáo nhất trí luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

3

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện S, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[ 2 ] Về hành vi phạm tội của các bị cáo nhận thấy: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/9/2023, tại sân vận động huyện S, tỉnh Lai Châu, Công an huyện sìn H, tỉnh Lai Châu đã phát hiện bắt quả tang Chẻo A đang có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,26 gam Heroine, N2 tàng trữ Heroine với mục đích để sử dụng (hít). Số Heroine trên là do N2 mua của Tẩn Mý L1; trú tại bản Sìn H, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu. Từ lời khai của Nải cơ quan điều tra Công an huyện S đã tiến hành khám xét khẩm cấp đối với Tẩn M, qua khám xét đã thu giữ của Tẩn M1 Lai 01 gói Heroine có khối lượng là 0,04 gam và 200.000 đồng tiền Việt Nam đồng, trong đó có 150.000 đồng là tiền bán Heroine cho Chẻo A N2. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Tẩn Mý L1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 BLHS. Đối với Chẻo A N2, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2010/HSST, ngày 08/01/2010 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt Chẻo A N2 30 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2012/HSST, ngày 29/11/2012 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt Chẻo A N2 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 30 tháng tù của Bản án số: 14 2010/HSST, ngày 08/01/2010 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu Chẻo A Nải phải chấp hành 60 tháng tù.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2018/HSST, ngày 07/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, xử phạt Chẻo A 7 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (tại bản án này bị cáo được xác định là “Tái phạm nguy hiểm”. Ngày 08/6/2023, bị cáo thi hành xong hình phạt, tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội (ngày 16/9/2023) bị cáo Chẻo A N2 chưa được xóa án tích, hành vi của vị cáo Chẻo A N2 thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Do vậy, hành vi của bị cáo Chẻo A N2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 điều 249 BLHS. Do đó, Cáo trạng số: 33/CT- VKS, ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố các bị cáo Chẻo A N2 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS và Tẩn M về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 251 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[ 3 ] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nhận thấy, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức rõ việc mua bán, tàng trữ trái phép Heroine là vi phạm pháp luật, nhưng vì tư lợi và muốn có Heroine để sử dụng nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo Tẩn Mý L1 thực hiện là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Chẻo A N2 thực hiện là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Ma túy là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng đến an ninh nông thôn, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, xử phạt tù đối với các bị cáo để dăn đe, giáo dục đối với các bị cáo và cũng là để phòng, chống các loại tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về ma túy tại địa phương. Tuy nhiên, khi xem xét mức hình phạt cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.

Về nhân thân: Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, đều có nhân thân xấu đã bị xét xử, bị cáo Chẻo A N2 đã bị xét xử nhiều lần.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho các bị cáo; các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế -xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn có những hạn chế nhất định; bị cáo Tẩn Mỹ Lai có bố là Tẩn Cuổi Hòa được tặng Huy chương vì giai cấp nông dân Việt Nam, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho các bị cáo.

[ 4 ] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa, xét thấy, các bị cáo đều có nghề nghiệp trồng trọt, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Trong vụ án này, theo lời khai của Tẩn Mỹ L1, số Heroine bán cho Chẻo A N2 và số Heroine thu giữ khi khám xét khẩn cấp là do L1 mua của một người phụ nữ khoảng 35 tuổi, nhưng không rõ nhân thân lai lịch, nên không thể điều tra xử lý được đối với người này.

[ 5 ] Về vật chứng: 02 mảnh ni lon (trong đó màu trắng và 01 một mảnh giấy màu hồng), 02 mảnh giấy vệ sinh màu trắng, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội cần phải tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 150.000 đồng trong tổng số 200.000 đồng thu giữ của Tẩn Mỹ Lai đây là tiền do phạm tội mà có cần phải tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Trả lại cho T Mý Lai số tiền 50.000 đồng trong tổng số 200.000 đồng thu giữ của Tẩn Mý Lai không liên quan đến vụ án.

[ 6 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Xét thấy, các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế -xã hội đặc biệt khó khăn cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên và ý kiến đề nghị của người bào chữa là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần phải chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

5

Áp dụng khoản 1 Điều 251 đối với bị cáo Tẩn Mý L1 và áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS đối với bị cáo Chẻo A N2. Áp dụng đối với các bị cáo Tẩn Mý L1Chẻo A điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38; Điều 50; điểm a,b khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a,b khoản 2 Điều 106; khoản 3 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về án phí, lệ phí.

  1. Tuyên bố bị cáoTẩn Mỹ Lai phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo T Mý Lai 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành, được khấu trừ 09 ngày tạm giữ từ ngày 16/9/2023 đến ngày 25/9/2023.

  2. Tuyên bố bị cáo Chẻo A N2 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Chẻo A N2 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 16/9/2023.

  3. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy gồm: 02 mảnh ni lon (trong đó 01 mảnh ni lon màu hồng và 01 mảnh ni lon màu trắng) và 02 mảnh giấy vệ sinh màu trắng.

    Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 150.000 đồng thu giữ của Tẩn Mỹ Lai trong tổng số 200.000 đồng thu giữ của Tẩn M. Trả lại cho T Mý Lai số tiền 50.000 đồng trong tổng số 200.000 đồng thu giữ của Tẩn Mý L1.

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Tẩn Mý L1Chẻo A.

Án xử công khai, có mặt các bị cáo, các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Công an huyện Sìn Hồ;
  • - VKSND huyện Sìn Hồ;
  • - Thi hành án hình sự CA huyện Sìn Hồ;
  • - Thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HSST ngày 10/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 57/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào 11 giờ 30 ngày 16/09/2023 công an huyện Sìn Hồ bắt quả tang Chẻo A N đang tàng trữ 0,26 gam Heroine, N Khai số Heroine trên là N mua của Tẩn Mý L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger