|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 57/2024/HS-ST Ngày: 10-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Nhất Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Hoàng Việt
- Bà Đỗ Thị A
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Trúc Ly - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Ông Phan Trần Vĩnh Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 14/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 15/4/2024 đối với bị cáo:
Đặng Anh D; sinh năm 1966 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: số A T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Hiếu L (chết) và bà Ông Thị T (chết); Có 02 con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 27/7/1996, Công an Q bắt tội “Cướp tài sản của công dân”. Kết quả xác minh không có thông tin Đặng Anh D với hành vi “Cướp tài sản của công dân” bị Công an Q bắt ngày 27/7/1996.
- Ngày 26/8/2008 “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 10 năm tù giam, theo Bản án số 96/HSST ngày 28/5/2009; Bị can chấp hành án đến ngày 26/02/2015. Theo công văn số 39/XMTHA ngày 12/01/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự quận Phú Nhuận trả lời Chi cục thi hành án Dân sự quận Phú Nhuận chưa thụ lý thi hành các khoản trên.
Bị bắt tạm giam từ ngày 22/9/2023 (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 40 ngày 22/9/2023, tại trước nhà số E C, Phường A, Quận A, Tổ tuần tra Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Q phát hiện Đặng Anh D điều khiển xe mô tô biển số 59Y1-450.82, có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành mời về trụ sở Công an Q để kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện thu giữ trong túi quần của Đặng Anh D 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu. D khai nhận là ma túy tổng hợp của D, cất giữ để sử dụng. Công an Q, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đặng Anh D chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q trưng cầu giám định tinh thể không màu, đã thu giữ của Đặng Anh D. Tại Kết luận giám định số 10548/KL-KTHS ngày 29/09/2023 của Phòng K2 Công an T1 kết luận: “Tinh thể không màu chứa trong gói nylon của Đặng Anh D, có khối lượng 0,2823g, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine”.
Tại Cơ quan điều tra bị can Đặng Anh D khai nhận, khoảng 11 giờ 35 ngày 22/9/2023, do nhu cầu sử dụng ma túy bị can D điều khiển xe mô tô biển số: 59Y1-450.82 vào một con hẻm nhỏ gần chùa Đ1 Phường A, Quận A, gặp một người phụ nữ tên N (không rõ lai lịch) mua 01 (một) gói ma túy đá với giá 200.000 đồng. D cất gói ma túy vào trong túi quần và chạy xe về thì bị Công an phát hiện, bắt giữ. D đã mua ma túy của N được 02 lần; Lần đầu mua 01 (một) gói ma túy đá với giá 200.000 đồng, vào ngày 16/9/2023, số ma túy này D đã sử dụng hết.
- Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra, bên trong có 0,2262g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Airblade, biển số: 59Y1-450.82, có số máy: JF46E-0048399, số khung: RLHJF4600DY048347. Kết quả giám định số khung, số máy của xe mô tô không thay đổi; Xác minh xe do ông Nguyễn Minh D1, đứng tên giấy đăng ký xe. Xác minh tại được biết nơi đăng ký thường trú, ông D1 đã bán nhà từ năm 2020, hiện không rõ nơi cư trú của ông D1. Bị can D khai, vào khoảng 10 giờ 30 ngày 22/9/2023 bị can D mượn xe mô tô trên của chị K (con ruột của bị can D) để đi công việc, sau đó sử dụng để mua ma tuý, chị K không biết. Qua xác minh, ngày 09/3/2020, chị Đặng Thị Bảo K1 mua chiếc xe trên tại Cửa hàng X, địa chỉ: A Quốc lộ B, Ấp Đ, Bà Đ, Hóc M, do bà Võ Thị Mỹ L1 là chủ, với giá 27.000.000 đồng và trực tiếp sử dụng. Bà L1 khai, có mua chiếc xe trên từ ông Nguyễn Minh D1 với giá 25.000.000 đồng, không làm hợp đồng công chứng mua bán xe. Ngày 09/3/2020, bà L1 bán lại cho chị Đặng Thị Bảo K1. Kết quả tra cứu xe vật chứng được biết không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Ngày 09/01/2023, Cơ quan CSĐT Công an Q có Công văn đăng báo tìm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến chiếc xe trên nhưng đến nay chưa có kết quả.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 chuyển các vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.
- 01 (một) điện thoại hiệu Redmi màu đen có số imei: 86808054698386 và có số thuê bao 0938285323, thu giữ của bị can D, không liên quan đến vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra xử lý vật chứng giao trả chiếc điện thoại cho chị Đặng Thị Bảo K1 theo đề nghị của bị can D.
Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKSQ10 ngày 13/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố bị cáo Đặng Anh D ra trước Tòa án nhân dân Quận 10 để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Miễn phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên trong có 0,2262g ma túy loại Methamphetamine.
- Tiếp tục tạm giữ và công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với xe gắn máy 01 xe môtô nhãn hiệu Airblade, biển số: 59Y1- 450.82, có số máy: JF46E-0048399, số khung: RLHJF4600DY048347 trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Bị cáo không tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Xét, đã có đủ cơ sở kết luận: Để thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy, vào khoảng 11 giờ 40 phút ngày 22/9/2023, tại trước số E C, Phường A, Quận A bị cáo Đặng Anh D đã có hành vi cất giữ trái phép 0,2823g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng với động cơ bất chính, muốn thỏa mãn nhu cầu nghiện ngập của bản thân nên vẫn cố ý phạm tội.
[4] Các tình tiết tăng nặng: Không có
[5] Các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt tù về những hành vi liên quan đến ma túy. Tuy đã được xóa án tích nhưng cho thấy bị cáo có thái độ coi thường pháp luật, đã được giáo dục, răn đe nhưng không chịu sửa chữa mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Do đó, cần phải có mức hình phạt thật nghiêm.
Sau khi xem xét khách quan, toàn diện về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành người có ích. Hình phạt đối với bị cáo cũng để giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xét:
- 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên cán bộ điều tra, bên trong có chứa 0,2262g ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định) là vật cấm tàng trữ nên tiêu hủy.
- 01 xe môtô nhãn hiệu Airblade, biển số: 59Y1-450.82, có số máy: JF46E-0048399, số khung: RLHJF4600DY048347 qua điều tra chưa xác minh được chủ sở hữu hợp pháp. Do đó, cần tiếp tục tạm giữ và công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng để truy tìm chủ sở hữu trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên không có người nhận thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đặng Anh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Xử phạt: bị cáo Đặng Anh D 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 22/9/2023.
Miễn áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên trong có 0,2262g ma túy loại Methamphetamine.
- Tiếp tục tạm giữ và công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với xe gắn máy 01 xe môtô nhãn hiệu Airblade, biển số: 59Y1-450.82, có số máy: JF46E-0048399, số khung: RLHJF4600DY048347 trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
(Theo quyết định chuyển vật chứng số 41/QĐ-VKS ngày 11/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10)
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Nhất Dũng |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
