TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2024/HS-ST Ngày: 09/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phúc Hiếu và ông Nguyễn Ngọc Tâm
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
Vũ Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10/01/1996 tại huyện B, tỉnh Hà Nam; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam; Nơi ở hiện tại: Số D, ngõ B T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Vũ Văn Đ1, sinh năm 1967; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/9/2020 bị Công an quận B, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, số tiền 1.500.000 đồng, đã nộp phạt ngày 05/10/2020. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 10/4/2024 đến ngày 16/4/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt).
Trần Quang L; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 02/9/2003 tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú và nơi ở hiện tại: Khu C, xã S, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Trần Văn B, sinh năm 1964; Mẹ đẻ: Trần Thị Tố N, sinh năm 1976; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 10/4/2024 đến ngày 16/4/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Trần Quang L1, sinh năm 2003 (có mặt)
Nơi cư trú: Khu C, xã S, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1977 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu I, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Anh Phạm Anh H1, sinh năm 1992 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Số F, Y, phường Y, quận T, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 30 phút ngày 08/4/2024 tại tỉnh lộ 324 thuộc khu C, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác Công an huyện L đang làm nhiệm vụ phát hiện 02 nam giới đang ngồi trên xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 19F1-371.50 đang dừng đỗ ven đường có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành làm việc, người nam giới ngồi phía trước điều khiển xe khai tên là Trần Quang L, sinh năm 2003; người ngồi phía sau khai tên là Trần Quang L1, sinh năm 2003, hai người là anh em sinh đôi, đều có HKTT: Khu H, xã S, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Tại chỗ, Trần Quang L khai nhận đang cất giấu ma túy “Tobaco”. Trần Quang L đã tự nguyện giao nộp từ túi quần bên trái L đang mặc 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có khuy bấm và đường kẻ màu đỏ, bên trong có các chất dạng sợi thực vật màu vàng.
Tổ công tác đã mời người chứng kiến, tạm giữ, niêm phong túi nilon thu giữ của Trần Quang L vào 01 bì giấy dán kín. Ngoài ra, tạm giữ của L: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, đã qua sử dụng, hai bên phía sau bánh trước không có yếm, đeo biển số 19F1-371.50.
Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc L khai: L tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để bán cho ai có nhu cầu mua nhưng chưa kịp bán thì bị Công an phát hiện. Ngày 08/4/2024 L chỉ rủ L1 đi xuống xã C, huyện L, L1 không biết việc L tàng trữ trái phép chất ma túy trên người.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Quang L tại khu C, xã S, thành phố V nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Căn cứ vào lời khai của Trần Quang L và kết quả xác minh ban đầu xác định, nguồn gốc số ma túy L có được là mua của Vũ Văn Đ, sinh năm 1996, HKTT: xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện tại: số nhà D, ngõ B, đường T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội. Trong ngày 08/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở hiện tại của Vũ Văn Đ. Quá trình khám xét đã thu giữ:
Thu giữ trên nền nhà tại phòng ở của Đức: 03 (ba) túi nilon màu trắng bạc bên trong có chứa chất sợi thực vật màu vàng; 22 (hai mươi hai) túi nilon màu trắng, miệng túi có khuy bấm viền màu đỏ, bên trong có chứa chất sợi thực vật màu vàng; (Đ khai đây là ma túy Đ cất giữ nhằm mục đích để bán)
Thu giữ tại vị trí trên giường ở phòng ngủ của Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus số IMEI: 353331077378257 lắp sim thuê bao số 0964.579.297 điện thoại cũ, đã qua sử dụng (tại chỗ Đ khai đây là chiếc điện thoại Đ dùng để liên lạc khi mua bán ma túy).
Ngày 09/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành thu mẫu nước tiểu của Trần Quang L, Hoàng Văn C và Trần Quang L1 để giám định chất ma túy trong mẫu nước tiểu.
Ngày 09/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ C1 giám định chất ma túy đối với chất dạng sợi thực vật màu vàng tạm giữ của Trần Quang L (01 bì niêm phong), chất dạng sợi thực vật màu vàng tạm giữ của Vũ Văn Đ (03 túi màu trắng bạc, 22 túi nilon màu trắng). Mẫu nước tiểu thu của Hoàng Văn C, Trần Quang L, Trần Quang L1. Tại bản kết luận giám định số 2638/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của V Bộ C1 kết luận:
Đều tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong các mẫu sợi thực vật màu vàng trong 01 phong bì, 03 túi nilon màu trắng bạc và 22 túi nilon màu trắng gửi đến giám định. Khối lượng mẫu, khối lượng chất ma túy như sau:
Tên mẫu: phong bì, khối lượng mẫu: 48,74 gam, khối lượng chất MDMB-4en-PINACA: 0,341 gam.
Tên mẫu: 03 túi nilon màu trắng bạc và 22 túi nilon màu trắng, khối lượng mẫu: 1.093,72 gam; khối lượng chất MDMB-4en-PINACA: 6,562 gam;
Đều tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA và các sản phẩm chuyển hóa của của MDMB-4en-PINACA trong các mẫu nước tiểu ghi thu của Hoàng Văn C, Trần Quang L và Trần Quang L1 gửi đến giám định.
Tại cơ quan điều tra, các bị can khai nhận như sau:
Khoảng đầu tháng 4 năm 2024 Vũ Văn Đ có lập 01 tài khoản Facebook “Thành Tobaco” để mua ma túy MDMB-4en-PINACA (thường gọi là ma túy T), tài khoản này được đăng nhập trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus, số IMEI: 353331077378257 lắp sim thuê bao số 0964.579.297 của Đ. Vũ Văn Đ sử dụng tài khoản “Thành Tobaco” để tham gia vào hội nhóm về ma túy T thì thấy có 01 bài viết đăng bán ma túy Tobaco của một người đàn ông, Đ không biết rõ tên, tuổi địa chỉ. Đ đã hỏi mua của người này 03 gói ma túy Tobaco với giá 2.000.000đ (hai triệu đồng), người đàn ông này đồng ý và hẹn Đ đến khu vực bến xe M để giao cho Đ 03 gói ma túy T và Đ đã đưa cho người này số tiền 2.000.000₫ (các tin nhắn và bài viết có liên quan về giao dịch mua ma túy này Đ đã xóa hết). Sau khi mua được ma túy Đ mang về phòng trọ cất giấu.
Ngày 04/4/2024, Trần Quang L dùng tài khoản Facebook “L” của mình liên hệ với tài khoản Facebook “Thành Tobaco” của Đ để hỏi mua Đ 500.000 đ tiền ma túy Tobaco, Đ đã đồng ý. L gửi thông tin người nhận là “L2” và số điện thoại của L là 0397.522.xxx, địa chỉ nhận: thành phố V cho Đ để Đ gửi ma túy cho L. Sau đó, Đ gửi cho L số tài khoản 201788579 của ngân hàng V1 mang tên Đ để L chuyển tiền ma túy cho Đ. Đến khoảng hơn 10 giờ 30 phút ngày 04/4/2024 L đã liên hệ nhờ anh Cao Văn A, sinh ngày 13/9/2005; HKTT: Đội 7, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ chuyển hộ cho L số tiền 500.000đ từ số tài khoản 0377256091 thuộc ngân hàng M của anh A vào tài khoản của Đ (L đã trả đủ cho A số tiền 500.000đ). Sau khi nhận được tiền, khoảng 14 giờ cùng ngày, Đ đóng ma túy Tobaco vào một hộp giấy dán kín, ghi thông tin người nhận là số điện thoại của L và đúc vào 01 túi nilon màu hồng. Vũ Văn Đ đi ra đầu ngõ B T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội nhờ anh Phạm Anh H1, sinh năm 1992; HKTT: Số F, Y, quận T, thành Phố Hà Nội (anh H1 làm nghề lái xe ôm) mang ra bến xe M gửi gói hàng về thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Anh H1 đồng ý. Đ trả cho anh H1 50.000đ tiền công, anh H1 mang gói hàng ra bến xe gửi về thành phố V (không nhớ rõ gửi xe nào) như đã thỏa thuận. Đến buổi chiều cùng ngày, L nhận điện thoại của nhà xe và đón xe khách nhận gói ma túy trên (L không nhớ số điện thoại, biển kiểm soát của chiếc xe khách mà L đã nhận gói hàng có ma túy).
Về số ma túy còn lại, Đ đã chia thành 25 túi trong đó có 22 túi nhỏ có đặc điểm túi nilon màu trắng, miệng túi có khuy bấm, viền màu đỏ và 03 túi nilon màu trắng bạc, Đ cất giấu tại chỗ ở nhằm mục đích để bán cho ai cho nhu cầu mua nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện và thu giữ như đã nêu trên. Số tiền 500.000₫ Đ có được từ việc bán trái phép chất ma túy cho L, Đ đã tiêu sài cá nhân hết.
Sau khi mua được ma túy của Đ, L mang về chia thành 03 gói, L cất giấu tại chỗ ở của mình. Đến buổi trưa ngày 05/4/2024, Hoàng Văn C, sinh năm 1977; HKTT: Khu I, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ dùng tài khoản facebook của C là “Nguyễn Nam P” nhắn tin cho tài khoản Facebook khác của L là “L” để hỏi mua 02 túi ma túy T, L đồng ý. L và C đã thỏa thuận L bán cho C 02 túi ma túy Tobaco có giá là 220.000đ (trong đó tiền ma túy là 200.000đ còn 20.000đ là tiền công giao ma túy). Hai bên thống nhất hẹn nhau đến xã C, huyện L để giao dịch. Sau đó, L rủ em trai của L là Trần Quang L1 chở L đi đến địa điểm hẹn. Khi đến khu vực trường C2 xã C thuộc khu C, xã C, huyện L, L thấy C đã đợi sẵn ở đó. L xuống xe đi bộ thêm khoảng 7 đến 10 mét và đưa cho C 02 gói ma túy T, C đưa cho L số tiền 220.000đ. Số tiền này L đã tiêu sài cá nhân hết. Đối với số ma túy còn lại, L tiếp tục cất giấu, đến ngày 08/4/2024 L mang theo người nhằm mục đích để bán cho ai có nhu cầu mua thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và lập biên bản như đã nêu trên. Về số ma túy C mua được của L, C đã sử dụng hết, chiếc điện thoại di động mà C dùng để liên lạc khi mua bán ma túy với L, C đã làm mất trước khi làm việc với cơ quan công an.
Quá trình điều tra: Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Phạm Anh H1 số tiền 50.000 đồng; tạm giữ số tiền: 220.000 đồng do gia đình Trần Quang L tự nguyện giao nộp; tạm giữ số tiền: 500.000 đồng do gia đình Vũ Văn Đ tự nguyện giao nộp.
Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKSLT ngày 29/7/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ truy tố: Bị cáo Vũ Văn Đ và Trần Quang L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn Đ và Trần Quang L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS.
Xử phạt Vũ Văn Đ từ 25 tháng đến 27 tháng tù. Thời hạn tù tính từ khi bị bắt tạm giữ là ngày 10/4/2024.
Xử phạt Trần Quang L từ 24 tháng đến 26 tháng tù. Thời hạn tù tính từ khi bị bắt tạm giữ là ngày 10/4/2024.
Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu để tiêu hủy gồm:
01 hộp cát tông dán kín, bên trong có 47,780 gam mẫu các sợi thực vật màu vàng (mẫu vật thu giữ của Trần Quang L còn lại sau giám định) và 1.064,25 gam mẫu các sợi thực vật màu vàng (mẫu vật thu giữ của Vũ Văn Đ còn lại sau giám định), cùng các vỏ bao gói; xung quanh hộp cát tông có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và các dấu hình tròn đỏ của V - Bộ C1 và 01 sim thuê bao số 0964.579.297.
Tịch thu bán sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, đã qua sử dụng, hai bên phía sau bánh trước không có yếm, đeo biển số 19F1-371.50, tạm giữ của Trần Quang L và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus, số IMEI: 353331077378257 điện thoại cũ, đã qua sử dụng, tạm giữ của Vũ Văn Đ.
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 770.000₫ (Bảy trăm bảy mươi nghìn đồng) theo ủy nhiệm chi ngày 05/9/2024.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Các bị cáo không tranh luận về tội danh cũng như bào chữa về phần hình phạt.
Các bị cáo lần lượt nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để được cải tạo sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Ngày 04/4/2024, Vũ Văn Đ có hành vi bán trái phép 01 gói các sợi thực vật màu vàng, có chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA cho Trần Quang L với giá 500.000 đồng. Vũ Văn Đ đã đóng gói ma túy, gửi qua xe khách và đến buổi chiều cùng ngày L ra đón xe khách tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ để nhận gói ma túy trên. Số ma túy còn lại có khối lượng 6,562 gam chất MDMB-4en-PINACA trong 1.093,72 gam các sợi thực vật màu vàng, Vũ Văn Đ tàng trữ tại chỗ ở của Đ, địa chỉ: số nhà D, ngõ B, đường T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội, nhằm mục đích để bán bị Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ ngày 08/4/2024.
Sau khi mua được chất ma tuý của Đ, vào ngày 05/4/2024, tại khu vực cổng trường cấp 1 C, thuộc khu C, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ Trần Quang L đã có hành vi bán trái phép 02 gói các sợi thực vật màu vàng, có chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA cho Hoàng Văn C với giá 220.000 đồng (số ma túy này C đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng). Số ma túy còn lại có khối lượng 0,341 gam chất MDMB-4en-PINACA trong 48,74 gam các sợi thực vật màu vàng, Trần Quang L tàng trữ trên người nhằm mục đích để bán thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ ngày 08/4/2024 tại tỉnh lộ 324 thuộc khu C, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
[2] S khai nhận này hoàn toàn phù hợp với biên bản sự việc, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, biên bản khám xét, lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trong vụ án tại Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa. Do vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Vũ Văn Đ và Trần Quang L đủ yếu tố cấu thành tội phạm như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ đã truy tố các bị cáo: Vũ Văn Đ và Trần Quang L theo khoản 1 Điều 251 của BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự về Tội mua bán trái phép chất ma túy.
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”....
[3] Xét tính chất vụ án: Bị cáo Đ và L cùng phạm tội nghiêm trọng. Chỉ vì nghiện ma túy và muốn có tiền tiêu sài cá nhân nên các bị cáo đã mua ma túy và nhằm mục đích bán lại kiếm lợi nhuận. Hành vi bán trái phép chất ma túy MDMB-4en-PINACA của Đ và L đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, các chất gây nghiện, loạn thần.....Bởi vì ma túy để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, gây ra nhiều tác hại cho sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác như trộm cắp, lừa đảo, cướp giật tài sản,...để có tiền mua bán, sử dụng trái phép ma túy. Hành vi đó đã gây mất trật tự an ninh trong huyện và trong tỉnh, bị xã hội lên án. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội hiện nay.
[4] Xét nhân thân của các bị cáo thấy rằng: Bị cáo Đ có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã nộp phạt ngày 05/10/2020, nhưng không sửa chữa mà lại tiếp tục mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo L chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Các Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra và phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo nhận tội và hối hận đối với hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Đ có ông nội là Vũ Hồng T1 được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến năm 1984, Bị cáo L có ông nội là Trần Văn Á được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến năm 1996, nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Xong cũng cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian thích hợp để các bị cáo cải tạo sớm trở thành người có ích cho gia đình và xã hội sau này.
[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 251 BLHS có quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Theo biên bản xác minh tài sản đối với Vũ Văn Đ và Trần Quang L của Cơ quan CSĐT Công an huyện L và tại phiên tòa đã xác định:
Các bị cáo đang sống ở nhờ nhà bố mẹ đẻ, không có tài sản gì có giá trị. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Quá trình điều tra đã xác định Trần Quang L1, Hoàng Văn C có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện L để xử phạt vi phạm hành chính, hình thức xử phạt chính: cảnh cáo là phù hợp.
[7] Đối với hành vi điều khiển xe “Không có giấy phép lái xe” và “Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy” vào ngày 08/4/2024 của Trần Quang L, Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện L để xử phạt vi phạm hành chính, tổng số tiền 8.500.000 đồng là phù hợp.
[8] Đối với hành vi điều khiển xe “Không có giấy phép lái xe” vào ngày 08/4/2024 của Trần Quang L1, Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện L để xử phạt vi phạm hành chính, số tiền 1.500.000 đồng là phù hợp.
[9] Đối với Cao Văn A, Phạm Anh H1: Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ xử lý là phù hợp.
[10] Đối với người bán ma túy cho Vũ Văn Đ và chiếc xe khách mà Đ đã gửi ma túy cho L, cơ quan cảnh sát điều tra không có cơ sở để tiếp tục xác minh là phù hợp.
[11] Xét về vật chứng gồm:
Đối với 01 hộp cát tông dán kín, bên trong có 47,78 gam mẫu các sợi thực vật màu vàng (mẫu vật thu giữ của Trần Quang L còn lại sau giám định) và 1.064,25 gam mẫu các sợi thực vật màu vàng (mẫu vật thu giữ của Vũ Văn Đ còn lại sau giám định), cùng các vỏ bao gói; xung quanh hộp cát tông có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và các dấu hình tròn đỏ của V - Bộ C1, là vật chứng bị cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, đã qua sử dụng, hai bên phía sau bánh trước không có yếm, đeo biển số 19F1-371.50, tạm giữ của Trần Quang L, đây là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu bán sung quỹ nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus, số IMEI: 353331077378257, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, tạm giữ của Vũ Văn Đ, đây là vật chứng dùng liên hệ mua, bán ma túy, nên cần tịch thu bán sung quỹ nhà nước.
Đối với sim thuê bao số 0964.579.297 là số điện thoại sử dụng liên hệ mua, bán ma túy, nay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 770.000₫ (Bảy trăm bảy mươi nghìn đồng) thu lời bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy của các bị cáo, nay do người thân của L, Đ nộp thay và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp, đây là tài sản có được khi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[12] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[13] Quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng điều luật, hình phạt, cũng như xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên cần xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Văn Đ, Trần Quang L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Vũ Văn Đ 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 10/4/2024.
Xử phạt: Trần Quang L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 10/4/2024.
Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu để tiêu hủy gồm:
01 hộp cát tông dán kín, bên trong có 47,78 gam mẫu các sợi thực vật màu vàng (mẫu vật thu giữ của Trần Quang L còn lại sau giám định) và 1.064,25 gam mẫu các sợi thực vật màu vàng (mẫu vật thu giữ của Vũ Văn Đ còn lại sau giám định), cùng các vỏ bao gói; xung quanh hộp cát tông có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và các dấu hình tròn đỏ của V - Bộ C1 và 01 sim thuê bao số 0964.579.297.
Tịch thu bán sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, đã qua sử dụng, hai bên phía sau bánh trước không có yếm, đeo biển số 19F1-371.50, tạm giữ của Trần Quang L và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus, số IMEI: 353331077378257 điện thoại cũ, đã qua sử dụng, tạm giữ của Vũ Văn Đ.
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 770.000₫ (Bảy trăm bảy mươi nghìn đồng), trong đó thu của Phạm Anh H1 50.000 đồng; Trần Quang L 220.000 đồng và Vũ Văn Đ 500.000 đồng.
Vật chứng được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L và Chi cục thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Phú Thọ ngày 06/9/2024.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Vũ Văn Đ, Trần Quang L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuấn Anh |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 09/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn Đức + Trần Quang Long
