Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH HÀ

TỈNH HẢI DƯƠNG

—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 57/2024/HS-ST

Ngày: 09/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Mạc Văn Mùa
  2. Bà Phạm Thị Hoan

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Tiêu Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 28/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/Hà Bảo Châu, sinh năm 1990; nơi sinh và nơi cư trú: thôn V, xã A, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn C và bà Hà Thị K; có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/3/2024, chuyển tạm giam từ ngày 01/4/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt tại phiên tòa.

2/Lường T, sinh năm 1996; nơi sinh và nơi cư trú: thôn N, xã N, huyện P, Tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn D và bà Hoàng Thị V; có chồng là Lý Văn T (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/3/2024, chuyển tạm giam từ ngày 01/4/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo T1: Bà Nguyễn Thị C1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; có mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn C2, sinh năm 1972, địa chỉ: Thôn Q, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương (ông C2 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người làm chứng:

  • - Chị Phạm Thị H.
  • - Chị Hà Thị Q.
  • - Anh Nguyễn Văn L.
  • - Anh Nguyễn Văn H1.
  • - Chị Hà Thị T2.
  • - Anh Nguyễn Hữu Q1.
  • - Chị Phạm Thị M

* Người chứng kiến:

  • - Anh Phạm Khắc H2.
  • - Anh Bùi Hoàng Hữu L1.

(Tại phiên toà những người làm chứng, người chứng kiến đều vắng mặt.)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ ngày 23/3/2024 Hà Bảo C3, Lường Thị T3 và Nguyễn Văn L rủ Phạm Thị M, Hà Thị Q, Phạm Thị H, Hà Thị T2, Nguyễn Hữu Q1, Nguyễn Văn H1 và Phạm Khắc H2 đi hát tại quán K1 ở thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Đến khoảng 1 giờ ngày 24/3/2024 Hà Bảo C3 lấy 01 túi nilon bên trong có 3 viên ma túy tổng hợp dạng kẹo loại MDMA, 01 gói ma túy loại Ketamine để trên mặt bàn cho mọi người sử dụng. C3 và T3 mỗi người sử dụng (nuốt trực tiếp) ½ viên ma túy tổng hợp, 02 viên ma túy còn lại Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn H1 sử dụng hết. Sau đó Lường Thị T3 đổ gói ma túy loại Ketamine để trên bàn ra đĩa sứ rồi lấy bật lửa ga đốt nóng và lấy thẻ nhựa ngân hàng MB mang tên LUONG THI TRANG xào ma túy rồi để trên bàn cho mọi người tự sử dụng. Lần lượt C3, T3, Phạm Thị M, Hà Thị Q, Phạm Thị H, Hà Thị T2, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Hữu Q1 và Nguyễn Văn L sử dụng trái phép chất ma túy (bằng hình thức hít). Đến 3 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 bật lửa ga bằng nhựa, 01 đĩa sứ hình bầu dục; 01 ống hút được cuộn tròn bằng tờ tiền Polime mệnh giá 20.000 đồng và 01 thẻ nhựa ngân hàng MB mang tên “LUONG THỊ TRANG”.

Kết luận giám định số 193 ngày 26/3/2024 của phòng K2 công an tỉnh H kết luận: Chất tinh thể màu trắng bám dính trên mặt đĩa sứ được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 gửi đến giám định là ma túy loại Ketamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Chất tinh thể màu trắng bám dính trên thẻ nhựa Ngân hàng MB mang tên “LUONG THỊ TRANG” được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2 gửi đến giám định là ma túy loại ketamine, lượng mẫu bám rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Chất tinh thể màu trắng bám dính trong lòng ống hút được cuộn bằng tờ tiền Polymer mệnh giá 20.000đ. được niêm phong trong phong bì ký hiệu M3, gửi đến giám định là ma túy loại Ketamine, lượng mẫu bám rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.

Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKSHD-TH ngày 28/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo Hà Bảo C3, Lường Thị T3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận và trình bày toàn bộ hành tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Người bào chữa của bị cáo T3 ý kiến cơ bản nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử đánh giá vị trí vai trò và xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo T3 để áp dụng hình phạt đầu khung là 7 năm tù đối với bị cáo T3. Đề nghị miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T3.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Bảo C3, Lường Thị T3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với hai bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo C3 từ 7 năm 3 tháng đến 7 năm 9 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/3/2024; xử phạt bị cáo T3 từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/3/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa ga bằng nhựa, 01 đĩa sứ hình bầu dục và 01 thẻ nhựa ngân hàng MB mang tên “LUONG THỊ TRANG”. Đối với 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền Polime mệnh giá 20.000 đồng, cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền này. Về án phí: Đề nghị miễn tạm ứng án phí cho bị cáo T3; bị cáo C3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 01 giờ ngày 24/3/2024, tại quán K1 ở thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Hà Bảo C3, Lường Thị T3 đã chuẩn bị dụng cụ và ma túy để tổ chức cho mình và Phạm Thị M, Hà Thị Q, Phạm Thị H, Hà Thị T2, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Hữu Q1, Nguyễn Văn L sử dụng trái phép chất ma tuý loại MDMA và Ketamine, đến 3 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an phát hiện bắt giữ. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng chất ma túy, xâm phạm tới trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, trong đó bị cáo C3 là người cung cấp ma tuý cho bị cáo T3 và những người khác sử dụng nên C3 giữ vai trò thứ nhất trong vụ án. T3 khi được C3 đề nghị xào ma tuý Ketamine, T3 đã tích cực giúp sức đổ gói ma túy loại Ketamine để trên bàn ra đĩa sứ rồi lấy bật lửa ga đốt nóng và lấy thẻ nhựa ngân hàng MB của mình xào ma túy để cho mọi người sử dụng nên T3 là người giúp sức, đồng thời là người thực hành tích cực trong vụ án và giữ vai trò sau C3.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên cả hai bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng:

Đối với 01 đĩa sứ hình bầu dục của quán K1; 01 thẻ nhựa ngân hàng MB mang tên “LUONG THỊ TRANG”; 01 bật lửa ga bằng nhựa, xét đây là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 ống hút ma tuý, do ống hút đó được cuộn bằng tờ tiền Polime mệnh giá 20.000 đồng nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền này.

[7] Theo Hà Bảo C3 khai nguồn gốc số ma tuý sử dụng là của người đàn ông tên T4 ở xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương cho. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại UBND xã T nhưng chưa xác định được người có tên T4 như C3 khai. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Hà Bảo C3, Lường Thị T3, Phạm Thị M, Hà Thị T2, Hà Thị Q, Nguyễn Văn L, Nguyễn Hữu Q1, Phạm Thị H và Nguyễn Văn H1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên Chủ tịch UBND huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này là phù hợp.

Ông Nguyễn Văn C2 là chủ quán K1 không biết các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng hát nên không phải chịu trách nhiệm hình sự là phù hợp.

[8] Về án phí: Do bị cáo T3 là người dân tộc thiểu số cư trú tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên HĐXX miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T3 theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị có C3 bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Hà Bảo C3, Lường Thị T3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Hà Bảo C3 7 (bảy) năm 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/3/2024.
  3. Xử phạt bị cáo Lường Thị T3 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/3/2024.
  4. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa ga bằng nhựa, 01 đĩa sứ hình bầu dục và 01 thẻ nhựa ngân hàng MB mang tên “LUONG THỊ TRANG”. Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 20.000đ.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà).

  1. Về án phí: Bị cáo Hà Bảo C3 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Thị T3.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần liên quan của bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thanh Hà;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Bộ phận HSNV-Công an huyện Thanh Hà;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện Thanh Hà;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự -Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Hà;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Ông Cảnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về vụ án hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 57/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào hồi 01 giờ ngày 24/3/2024, tại quán K1 ở thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Hà Bảo C3, Lường Thị T3 đã chuẩn bị dụng cụ và ma túy để tổ chức cho mình và Phạm Thị M, Hà Thị Q, Phạm Thị H, Hà Thị T2, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Hữu Q1, Nguyễn Văn L sử dụng trái phép chất ma tuý loại MDMA và Ketamine, đến 3 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an phát hiện bắt giữ. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger