Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VĨNH YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HS-ST

Ngày 09-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Kim Dung và ông Bùi Thanh Bình

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hà Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại nhà văn hoá thôn ĐS, xã TT, thành phố Vĩnh Yên, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/HSST-QĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Hoàng Văn T, sinh ngày 16/11/1990, tại Phú Thọ; nơi cư trú: Tổ 14, phường MP, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Không; Đảng phái: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Minh Đ và bà Nguyễn Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến nay tại tại Tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 26/12/2023, Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Vĩnh Phúc đang làm nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực TDP Trại Giao thuộc phường KQ, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc thì phát hiện Hoàng Văn T, sinh năm 1990, trú tại: Tổ 14, phường MP, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã thu giữ tại túi áo ngực bên trong phía trước bên trái của T đang mặc 02 túi nilon màu trắng, trong đó 01 túi nilon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon bên trong có chứa 02 viên nén hình trụ tròn màu đỏ (T tự khai nhận đây là 02 túi nilon chứa ma túy đá và ma túy ngựa mà T vừa mua được với giá 3.200.000đ để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện). Tổ công tác tiến hành niêm phong 02 túi nilon nghi là ma túy thu giữ của T vào phong bì thư kí hiệu A1, tạm giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO vỏ màu đen đã cũ, đã qua sử dụng. Sau đó, Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang rồi đưa T, người liên quan cùng vật chứng về trụ sở làm việc.

Tại Kết luận giám định số 3559/KLGĐ -KTHS ngày 30/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận:

“1. Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 4,4740g (Bốn phảy bốn bảy không bốn gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.

2. 02 (Hai) viên nén màu đỏ có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1814g (Không phảy một tám một bốn gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.

Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1 = 4,3980 gam mẫu viên nén + 0,1535 gam mẫu tinh thể và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ3404” trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc./."

Về nguồn gốc 02 túi nilon bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine thu giữ của Hoàng Văn T, quá trình điều tra T khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 26/12/2023, T đang ở nhà của mình tại phường MP, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thì nảy sinh ý định sử dụng trái phép chất ma túy nên đã một mình bắt xe taxi từ thành phố Việt Trì đến thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến thành phố Vĩnh Yên, T xuống xe rồi một mình đi bộ đến khu vực bãi rác thuộc TDP Trại Giao, phường KQ để tìm mua ma túy. Tại đây, T gặp và mua được của 01 nam giới khoảng 40 tuổi (T không biết rõ nhân thân, lai lịch của nam giới này) 02 túi nilon chứa ma túy ngựa và ma túy đá với giá 3.200.000đ. Sau khi mua được ma túy, người nam giới bán ma túy cho T bỏ đi đâu T không biết, còn T cất 02 túi nilon chứa ma túy ở túi áo ngực bên trong phía trước bên trái đang mặc rồi đi bộ tìm nơi vắng người để sử dụng. Tới khoảng 20 giờ cùng ngày, khi T đang đứng chờ xe taxi để đi về thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thì bị Tổ công tác của Công an tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện và bắt giữ.

Tại Cáo trạng số: 59/CT-VKSND.TPVY ngày 09/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Hoàng Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/12/2023.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện ma tuý, không có tài sản, không có nghề nghiệp nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: gồm 4,3980 gam mẫu viên nén + 0,1535 gam mẫu tinh thể và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ 3404".

Trả lại Hoàng Văn T 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO màu đen, đã cũ, đã qua sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội của T nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo T không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Văn T tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người chứng kiến về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ căn cứ để kết luận.

Khoảng 20 giờ ngày 26/12/2023, Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Vĩnh Phúc đang làm nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực TDP Trại Giao thuộc phường KQ, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc thì phát hiện bắt quả tang Hoàng Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại túi áo ngực bên trong phía trước bên trái T đang mặc 02 túi nilon màu trắng bên trong lần lượt chứa 4,4740g tinh thể dạng đá và 0,1814g viên nén màu đỏ qua giám định xác định đều là ma túy, loại Methamphetamine. T khai nhận mục đích mua số ma túy trên để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Hành vi của Hoàng Văn T đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...”;

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe của con người, làm tác hại cho chính bản thân người nghiện và gia đình họ cũng như cho cộng đồng nói chung. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo T phạm tội theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năn 2017), có mức cao nhất của khung hình phạt tù đến 5 năm nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Trước khi bị cáo phạm tội có nhân thân tốt, tuy nhiên hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo có khối lượng lớn gần 05 gam ma tuý Methamphetamine là loại ma tuý tổng hợp để sử dụng.

Từ các căn cứ nêu trên xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nếu để cải tạo tại địa phương sẽ không có tác dụng giáo dục nói chung, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản, không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Đối với người có liên quan trong vụ án: Đối với người bán ma tuý cho T, Cơ quan điều tra không xác định chính xác về đối tượng đã bán ma tuý cho T ngày 26/12/2023. Do vậy, kiến nghị Cơ quan điều tra, Công an thành phố Vĩnh Yên tiếp tục điều tra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[6] Về vật chứng: Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 4,3980 gam mẫu viên nén + 0,1535 gam mẫu tinh thể và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ 3404” không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO màu đen, đã cũ, đã qua sử dụng, T không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại T nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7] Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 26/12/2023).

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 4,3980 gam mẫu viên nén + 0,1535 gam mẫu tinh thể và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ3404”.

Trả lại Hoàng Văn T 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO màu đen, đã cũ, đã qua sử dụng nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Vĩnh Yên với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND thành phố Vĩnh Yên;
  • - Công an thành phố Vĩnh Yên;
  • - Trại tạm giam - CA Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục thi hành án Vĩnh Yên;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đào Văn Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 57/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Tuân tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger