|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2024/HS-ST Ngày 08-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Minh Hải;
Bà Triệu Hồng Hạnh.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Thanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 các bị cáo:
- Lăng Hùng T, tên gọi khác: V; sinh ngày 19/02/1991 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lăng Hùng S (đã chết) và bà Lăng Thị X (sinh năm 1966); vợ: Hoàng Khánh L; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Quyết định số 32/QĐ-XPHC ngày 28/6/2013 của Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn xử phạt cảnh cáo về hành vi đánh nhau; chưa bị kết án, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị tạm giữ ngày 05/12/2023, tạm giam từ ngày 11/12/2023 đến nay. Có mặt.
- Vũ Mạnh S1; sinh ngày 05/4/1991 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Chưa đăng ký; chỗ ở: Ngõ B, khu D, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không rõ; con bà Vũ Thị T1 (sinh năm 1956); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị tạm giữ ngày 05/12/2023, tạm giam từ ngày 11/12/2023 đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Hoàng Khánh L, sinh năm 1995. Địa chỉ: Khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người làm chứng: Bà Lương Thị T2, sinh năm 1969. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Vương Ký L1, sinh năm 1982. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 05/12/2023 L T gọi điện thoại cho Vũ Mạnh S1 bảo Vũ Mạnh S1 đi trông đường để Lăng Hùng T mua pháo về bán kiếm lời và hứa sau khi xong việc sẽ trả cho Vũ Mạnh S1 500.000 đồng tiền công. Vũ Mạnh S1 đồng ý. Ngay sau đó, Lăng Hùng T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đỏ xám, biển kiểm soát 12D1 - 333.62 sang phòng trọ đón Vũ Mạnh S1 rồi cùng nhau đi lên khu vực chân đồi đường mòn thuộc thôn K, xã T, huyện V, để xe ở cạnh đường và tiếp tục đi bộ lên gần khu vực cột mốc 1102/2 biên giới Việt Nam và Trung Quốc. Khi lên đến gần hàng rào biên giới, bị cáo Vũ Mạnh S1 ngồi cách hàng rào khoảng 15 đến 20 mét để nghỉ và trông chừng lực lượng chức năng tạo điều kiện cho Lăng Hùng T mua pháo.
Tại đây, Lăng Hùng T gặp một người đàn ông Trung Quốc khoảng 60 tuổi (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) ở bên kia hàng rào biên giới thuộc địa phận Trung Quốc và hỏi mua 27 hộp pháo loại 36 ống/giàn với giá 800 nhân dân tệ. Người đàn ông đồng ý và đi lấy pháo. Được khoảng 05 phút sau, người đàn ông Trung Quốc mang 02 thùng cát tông có chứa pháo quay lại, đổ các hộp pháo ra đất rồi ném thùng cát tông, bao tải dứa qua hàng rào biên giới và chuyển các hộp pháo qua khe hàng rào cho Lăng Hùng T. Lăng Hùng T nhận pháo và gọi Vũ Mạnh S1 đến cùng xếp pháo vào 02 thùng cát tông bọc ngoài bằng bao tải dứa màu xanh, còn 03 hộp pháo lẻ Lăng Hùng T để riêng trong 01 bao tải dứa màu xanh khác. Sau khi xếp xong pháo, Vũ Mạnh S1 xách 01 bao tải chứa 03 hộp pháo đi trước, L T vác 02 thùng pháo đi sau. Khi đi được nửa đường thì Lăng Hùng T đưa cho Vũ Mạnh S1 vác hộ 01 bao pháo. Khi cả hai vác pháo đến chân đồi thì giấu 02 thùng pháo vào trong bụi tre. Vũ Mạnh S1 đi ra chỗ để xe máy còn Lăng Hùng T cầm 01 bao tải chứa 03 hộp pháo đi ra sau thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma túy và Công an xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật gồm 27 khối hình hộp kích thước 14,5 x 14,5 x 15cm/khối, bên trong mỗi khối có 36 vật hình trụ liên kết với nhau bằng dây dẫn nghi là pháo nổ, có tổng trọng lượng là 37,8 kg; 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12D1 - 333.62 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, bên trong lắp 01 sim Viettel thu giữ của Vũ Mạnh S1.
Tại Kết luận giám định số 67/KL-KTHS ngày 08/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 03 khối hình hộp gửi giám định là pháo, loại pháo hoa nổ. Khi đốt các khối pháo có gây ra tiếng nổ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lăng Hùng T, Vũ Mạnh S1 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Bị cáo Vũ Mạnh S1 khai bị cáo biết Lăng Hùng T mua pháo từ Trung Quốc về Việt Nam về để bán và đã sử dụng chiếc điện thoại bị thu giữ để liên lạc với Lăng Hùng T thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Lăng Hùng T khai có sử dụng chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung để liên lạc với Vũ Mạnh S1, tuy nhiên trong quá trình bắt quả tang đã bị rơi tại khu vực đường mòn chân đồi thuộc thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn nay không biết ở đâu; chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12D1 - 333.62 có đăng ký xe mang tên Hoàng Khánh L là của vợ bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Hoàng Khánh L trình bày: Chị là vợ của bị cáo Lăng Hùng T. Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12D1 - 333.62 là của chị, được mẹ đẻ là bà Lương Thị T2 mua cho, việc bị cáo Lăng Hùng T mang xe đi để mua pháo chị không biết. Chị đã được Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe và không có ý kiến, yêu cầu gì thêm.
Người làm chứng bà Lương Thị T2 trình bày: Chiếc xe mô tô là của bà mua cho chị Hoàng Khánh L với giá 30.000.000 đồng để phục vụ sinh hoạt hàng ngày, có đăng ký xe mang tên Hoàng Khánh L.
Quá trình điều tra, người chứng kiến khai được chứng kiến cơ quan điều tra thực hiện các hoạt động tố tụng đúng quy định của pháp luật.
Tại Cáo trạng số 56/CT-VKS ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Lăng Hùng T, Vũ Mạnh S1 về tội Buôn bán hàng cấm theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm k khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 38, 50, 58; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử phạt bị cáo Lăng Hùng T 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù; bị cáo Vũ Mạnh S1 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung do các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, bên trong lắp 01 sim V1 và trả lại cho chị Hoàng Khánh L 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12D1 - 333.62. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng các bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, người làm chứng, người chứng kiến vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong quá trình điều tra. Xét thấy, sự vắng mặt của người này không gây trở ngại đến việc xét xử, giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, đủ căn cứ kết luận: Ngày 05/12/2023 Lăng Hùng T và Vũ Mạnh S1 đã đi đến khu vực cột mốc 1102/2 biên giới Việt Nam và Trung Quốc để mua 37,8kg pháo hoa nổ với một người Trung Quốc ở bên kia hàng rào biên giới thuộc địa phận Trung Quốc để bán kiếm lời. Như vậy, bị cáo Lăng Hùng T, Vũ Mạnh S1 đã có hành vi buôn bán 37,8kg pháo qua biên giới.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng và vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng pháo nổ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lời nên cố ý thực hiện.
[5] Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lăng Hùng T, Vũ Mạnh S1 phạm tội Buôn bán hàng cấm theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo là có căn cứ.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[8] Về nhân thân: Bị cáo Vũ Mạnh S1 có nhân thân tốt, chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo Lăng Hùng T chưa bị kết án, chưa bị xử lý kỷ luật, bị xử phạt cảnh cáo về hành vi đánh nhau theo Quyết định số 32/QĐ-XPHC ngày 28/6/2013 của Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn, đã đủ thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, tuy nhiên, đánh giá bị cáo có nhân thân không tốt.
[9] Xét vai trò đồng phạm: Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo Lăng Hùng T vừa là người tổ chức, vừa là người thực hành khi chủ động rủ rê bị cáo Vũ Mạnh S1 đi trông đường cho mình để mua pháo từ Trung Quốc về Việt Nam để bán, chủ động lái xe mô tô đón Vũ Mạnh S1 đi thực hiện hành vi phạm tội và hứa sẽ trả công cho Vũ Mạnh S1 sau khi xong việc; chủ động trao đổi với người Trung Quốc để mua pháo bằng tiền của mình. Bị cáo Vũ Mạnh S1 giữ vai trò đồng phạm giúp sức tích cực khi cùng bị cáo Lăng Hùng T lên biên giới Trung Quốc - Việt Nam, ngồi trông chừng lực lượng chức năng để Lăng Hùng T mua pháo, giúp xếp pháo vào thùng và vận chuyển pháo về Việt Nam. Đánh giá bị cáo Lăng Hùng T có vai trò đồng phạm cao hơn bị cáo Vũ Mạnh S1.
[10] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có nghề nghiệp là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không sở hữu tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[11] Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và vai trò đồng phạm của từng bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp nên được chấp nhận.
[12] Đối với người đàn ông Trung Quốc do không rõ lai lịch và là người nước ngoài nên Cơ quan điều tra không đủ điều kiện xác minh làm rõ nên không xem xét, xử lý trong vụ án này.
[13] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét thấy, các hộp pháo hoa nổ còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên Cơ quan điều tra đã tịch thu, tiêu hủy là đúng quy định. Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12D1 - 333.62 quá trình điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe này là của chị Hoàng Khánh L, việc bị cáo sử dụng xe vào hành vi phạm tội chị Hoàng Khánh L không biết. Do đó, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho chị Hoàng Khánh L là đúng quy định. Đối với chiếc điện thoại S2 màu đen của Lăng Hùng T trong quá trình bắt quả tang đã bị rơi, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm thấy nên không có căn cứ xử lý. Đối với 01 điện thoại di động thu giữ của bị cáo Vũ Mạnh S1 là phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc với Lăng Hùng T nhằm thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[14] Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[15] Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm k khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 1 Điều 293; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh
- Về hình phạt
- Xử lý vật chứng
- Án phí
- Quyền kháng cáo
Tuyên bố bị cáo Lăng Hùng T, Vũ Mạnh S1 phạm tội Buôn bán hàng cấm.
Xử phạt bị cáo Lăng Hùng T 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (05/12/2023).
Xử phạt bị cáo Vũ Mạnh S1 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (05/12/2023).
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã qua sử dụng, IMEI1: 358044841921824, bên trong lắp 01 sim Viettel (do điện thoại tạm giữ đã lâu, không kiểm tra bên trong).
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08/7/2024 giữa Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn).
Các bị cáo Lăng Hùng T, Vũ Mạnh S1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (08/8/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 05/12/2023 Lăng Hùng T và Vũ Mạnh S1 đã đi đến khu vực cột mốc 1102/2 biên giới Việt Nam và Trung Quốc để mua 37,8kg pháo hoa nổ với một người Trung Quốc ở bên kia hàng rào biên giới thuộc địa phận Trung Quốc để bán kiếm lời. Như vậy, bị cáo Lăng Hùng T, Vũ Mạnh S1 đã có hành vi buôn bán 37,8kg pháo qua biên giới.
