Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ GIÁ RAI

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST

Ngày 07-6-2024

V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phai

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thành Nhạn
  2. Bà Cao Thị Mỹ Phượng

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Đèo –Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Hoàng Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2024/TLST–HNGĐ, ngày 18 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Châu Thu T, sinh năm 1990 (Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Áp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Anh Trần Thanh N, sinh năm 1989 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Châu Thu T trình bày:

Chị Châu Thu T và anh Trần Thanh N chung sống vợ chồng với nhau vào khoảng năm 2014, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Nguyên nhân mâu thuẫn gia đình anh N sống chung không hoà hợp, anh N ngày nào cũng đi ăn nhậu vui chơi với bạn bè, bỏ bê công việc gia đình, chị T đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh N không nghe, chị T nhiều lần nhờ người quen khuyên nhủ nhưng anh N vẫn không bỏ, chị T làm công việc để kiếm tiền nuôi gia đình, nhưng anh N không chịu cùng chị T ránh vác công chuyện gia đình. Vì vậy, chị T yêu cầu Toà án giải quyết các vấn đề sau đối với bị đơn anh N như sau:

+ Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với anh Trần Thanh N.

+ Về con chung: Có hai người con chung tên Trần Gia H, sinh ngày 10/7/2015, hiện tại sống chung với anh N, chị T đồng ý để cháu H cho anh N nuôi dưỡng; chị T đồng ý nuôi cháu Trần Gia H1; cấp dưỡng không yêu cầu.

- Bị đơn anh Trần Thanh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên không thể tiến hành lấy lời khai được và làm việc được.

- Kiểm sát viên phát biểu:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn không có mặt theo giấy triệu của Tòa án, vắng mặt tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải là không thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại các Điều 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Châu Thu T xin ly hôn với anh Trần Thanh N.

+ Về quan hệ con chung: Giao người con chung tên Trần Gia H, sinh ngày 10/7/2015 cho anh Trần Thanh N tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng; Giao cháu Trần Gia H1, sinh ngày 17/5/2020 cho chị Châu Thu T trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng; không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con do không có yêu cầu.

+ Chia tài sản: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên việc xét xử vắng mặt của họ là phù hợp với quy định tại các Điều 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Quan hệ hôn nhân: Do anh N đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không thể tiến hành lấy lời khai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của chị T để giải quyết theo quy định. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh N là hôn nhân hợp pháp. Thông qua lời khai của chị T đã chứng minh được chị T và anh N đã sống ly thân, với những lý do mà chị T đặt ra là có căn cứ. Từ đó, cho thấy hôn nhân giữa họ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Đây là căn cứ ly hôn theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu của chị Châu Thu T được ly hôn với anh Trần Thanh N.

[3] Việc nuôi con:

- Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”

Con chung tên: Trần Gia H, sinh ngày 10/7/2015 và Trần Gia H1, sinh ngày 17/5/2024. Xét thấy hiện cháu H đang sống cùng anh N và có nguyện vọng sống với anh N, cháu Trần Gia H1 hiện đang sống chung với chị T, vẫn đi học và phát triển bình thường; để không làm xáo trộn cuộc sống cũng như tâm sinh lý của cháu, nên tiếp tục giao người con chung tên Trần Gia H cho anh Trần Thanh N trông nom chăm sóc giáo dục và nuôi dưỡng; giao cháu Trần Gia H1 cho chị Châu Thu T tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là phù hợp.

- Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con do mình không trực tiếp nuôi, mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

- Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

- Về cấp dưỡng: Chị Châu Thu T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Tài sản chung: Chị Châu Thu T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Nợ chung: Không có nên không đặt ra.

[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai là phù hợp nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6] Về án phí:

- Chị Châu Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000đ, khấu trừ số tiền đã dự nộp tạm ứng theo biên lai thu tiền số 0008393 ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Giá Rai.

- Anh Trần Thanh N không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Châu Thu T và anh Trần Thanh N.

2. Việc nuôi con:

- Giao con chung tên: Giao người con chung tên Trần Gia H cho anh Trần Thanh N trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng; giao người con chung tên Trần Gia H1, sinh ngày 17/5/2020 cho chị Châu Thu T trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.

- Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con do mình không trực tiếp nuôi, mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

- Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

- Về cấp dưỡng: Không đặt ra xem xét.

3. Chia tài sản: Chị Châu Thu T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí:

- Chị Châu Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000đ, khấu trừ số tiền đã dự nộp tạm ứng theo biên lai thu tiền số 0008393 ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Giá Rai.

- Anh Trần Thanh N không phải chịu án phí.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND Tx. Giá Rai;
  • - Chi cục THADS Tx. Giá Rai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ; Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Phai

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TOẠ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger