TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2024/HS-ST
Ngày 07/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Biểu.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nguyên, ông Đào Ngọc Khải và bà Phạm Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 07/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 04 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
- * Đặng Quang S, sinh năm 1986, tại: huyện M, tỉnh Hưng Yên. Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố P, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Nơi ở: Căn hộ S Tòa nhà C, Chung cư L, Tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đặng Quang T (đã chết); Con bà: Đỗ Thị T1; Gia đình có hai chị em, bị cáo là con thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 17/6/2009, bị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm - Thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 24/02/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt 02 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”.
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2024 (Tại phiên tòa bị cáo khai 12/01/2024) tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, (có mặt).
- * Luật sư bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Hùng P - Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh H, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi luận cứ bào chữa cho bị cáo).
- * Người bị hại: Chị Lê Thị M sinh năm 1987 (đã chết).
- * Người Đại diện: Bà Hoàng Thị B sinh năm 1966, trú tại thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương, (có mặt).
- * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Đặng Thị Lâm T2 sinh năm 1984, trú tại tổ A, phường V, quận H, thành phố Hà Nội, (có mặt).
- Người làm chứng:
- Bà Đỗ Thị T1 sinh năm 1950, trú tại căn hộ S tòa nhà C, chung cư L, Tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, (vắng mặt).
- Cháu Đặng Lê Tuấn N sinh năm 2012, trú tại căn hộ S, chung cư L, Tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).
- Chị Đặng Thị Kim A sinh năm 1990, trú tại thôn Y, xã G, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Quang S và vợ là chị Lê Thị M có ba con chung là cháu Đặng Lê Tuấn N, cháu Đặng Lê Bảo K và cháu Đặng Lê Diệp A1 sống chung với mẹ đẻ của S là bà Đỗ Thị T1 tại căn hộ S tòa nhà C, chung cư L thuộc Tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Khoảng 20 giờ ngày 11/01/2024, sau khi gia đình ăn cơm xong, chị M bế cháu Diệp A1 xuống quán của chị Bùi Thị P ở tầng 1 tòa nhà CT02, chung cư L để gói đậu. Khoảng 20 giờ 40 phút, do cháu K khóc và đòi mẹ, S không đổ được nên đi xuống quán của chị P tìm chị M, thấy chị M vẫn đang gói đậu, S nói “Mày giỏi đi thì hôm nay đừng về nữa” sau đó S bế cháu Diệp A1 về nhà. Do bực tức vì S đang ốm, con thì quấy khóc mà chị M vẫn đi gói đậu nên S đã khóa chốt cửa nhà và nói với cháu N “Tý mẹ mày về, tao cắm mày mở cửa” nếu chị M về thì không cho chị M vào nhà. Đến khoảng 21 giờ 15 phút, chị M về bấm chuông, lúc này bà T1 đang ngồi ở phòng khách đi ra mở cửa cho chị M, S đang ngồi hút thuốc lá ở ban công giáp với khu vực bếp, còn cháu N đang đứng rửa bát. Thấy vậy, S đi ra phòng khách, vừa đi vừa chửi “Đ.m con này” rồi đến từ hướng ở phòng khách, dùng tay phải lấy một thanh kiếm dài 99,5cm, có vỏ và chuôi màu vàng đen, lưỡi kiếm sắc nhọn bằng kim loại sáng màu dài 72,5cm, chỗ rộng nhất cửa lưỡi kiếm là 03cm (được để trong vỏ bao). S rút kiếm ra và vít vỏ kiếm xuống nền nhà rồi tiến về phía chị M đang đứng ở cửa nhà. Thấy vậy, bà T1 lao vào ôm, giữ S và nói “Này, này, này! Giời ơi” thì S dùng tay gạt bà T1 ra, làm bà T1 ngã xuống nền nhà, còn S vừa chửi “Đ.m con mẹ mày! Mày biết chồng ốm, con thì mang mày bỏ đi như thế! Còn chó này!” vừa lao về phía chị M, tay phải S cầm kiếm đâm 01 nhát theo chiều hướng từ phải sang trái, từ sau ra trước, trúng vào vùng ngực phải của chị M rồi rút kiếm ra vít xuống nền nhà. S bảo cháu N mang cất kiếm đi. Thấy chị M bị chảy máu, S bế chị M xuống dưới sân nhà và thuê taxi chở chị M đến cấp cứu tại Bệnh viện Đ. Khi đến Bệnh viện, S gọi điện thoại cho em họ là chị Nguyễn Thị H và chị ruột của S là chị Đặng Thị Lâm T2, gọi cho mẹ đẻ chị M là bà Hoàng Thị B thông báo về việc S đã dùng kiếm đâm chị M và nhờ họ đến Bệnh viện Đ để trông nom chị M. Sau đó, S về nhà cởi bộ quần áo đang mặc trên người để trong nhà vệ sinh, mặc bộ quần áo khác rồi lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead có biển số 89F1-62371 chở bà T1 đến Bệnh viên đa khoa Phố Nối để chăm chị M. Khi đến cổng Bệnh viện S chỉ đường cho bà T1 đi vào Khoa cấp cứu, còn S điều khiển xe mô tô đến nhà chị Đặng Thị Kim A, ở thôn Y, xã G, huyện Y, tỉnh Hưng Yên gửi xe mô tô rồi bỏ trốn, đi lang thang tại Hà Nội. Do vết thương nặng nên chị Lê Thị M được chuyển đến Bệnh viện V tại Hà Nội để điều trị. Đến 11 giờ ngày 12/01/2024, chị M tử vong.
Ngày 13/01/2024, S bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H bắt, thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu xám, niêm phong ký hiệu “ĐT SƠN 01”, 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, niêm phong ký hiệu “ĐT SƠN 02”.
Tiến hành rà soát phát hiện 01 camera tại căn hộ số F, Tòa nhà C, Chung cư L, Cơ quan điều tra đã trích xuất 02 đoạn video lưu vào trong 01 USB ký hiệu "CAMS".
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường vụ án là nhà căn hộ 6A06 (nằm ở tầng G), Tòa nhà CT2, Chung cư L có diện tích 48m2, gồm: 01 phòng khách, 02 phòng ngủ, 01 nhà vệ sinh và 01 gian bếp. Dưới nền phòng khách cách mép cửa ra vào phía Đông 55cm, cách tường phía Bắc của phòng khách 65cm, phát hiện dấu vết bám dính màu nâu đỏ đã khô trên diện KT (10x10)cm, thu giữ niêm phong ký hiệu “A1”;
Tại phòng ngủ 1 phát hiện: Trên mặt ga kẻ sọc của giường ngủ KT (200x230)cm 02 vùng dấu vết bám dính chất màu nâu đỏ đã khô trên diện KT (0,5x2)cm và (4x2,5)cm, thu giữ chiếc ga niêm phong ký hiệu A2; Trên mặt tường phía Tây phát hiện dấu vết bám dính màu nâu đỏ, dạng quệt trượt theo chiều từ dưới lên trên, từ phía Bắc sang phía Nam có KT (10x1)cm, thu giữ niêm phong ký hiệu “A3”; Dưới gầm tủ gỗ phát hiện 01 thanh kiếm có vỏ và chuôi màu vàng đen, có hoa văn, dáng thanh kiếm cong, chiều dài từ điểm đầu vỏ kiếm đến cuối chuôi kiếm là 1,03cm, lưỡi kiếm sắc nhọn bằng kim loại sáng màu dài 72,5cm, chỗ rộng nhất của lưỡi kiếm là 03cm, chuôi kiếm dài 27cm, chiều dài của thanh kiếm là 99,5cm. Kiểm tra lưỡi kiếm thấy đầu lưỡi kiếm dính nhiều chất màu nâu đỏ đã khô trên diện KT (9x1)cm, thu giữ niêm phong ký hiệu “A4”.
Tại nhà vệ sinh phát hiện 01 bộ quần áo cộc của nam giới, gồm: 01 quần đùi xám, cụp chun có dây rút màu đen, tại ống quần phía trước bên trái có chữ Adidas màu đen, 01 áo phông cộc tay cổ bẻ, màu xám, tại trước ngực bên trái áo có chữ Adidas màu đen, trên bộ quần áo này bám dính chất có màu nâu đỏ, thu giữ niệm phong ký hiệu “A5”; 01 áo khoác liền mũ kiểu của nam giới màu cam, tại mặt áo phía trước có bám dính chất màu nâu đỏ, thu giữ niêm phong ký hiệu "A6".
Kết quả khám nghiệm tử thi Lê Thị M:
- Vùng ngực 02 bên nằm trên đường giữa cách mỏm cằm 2,5cm có vết rách da nằm ngang được khâu bằng 08 mũi chỉ rời KT(17x1)cm, khi cắt chỉ vết thương có KT(17x3,5)cm bờ mép vết thương sắc gọn có chiều từ phải sang trái. Vùng ngực phải sát đường giữa, sát vết thương rách da vùng ngực 02 bên có vết rách da được khâu bằng 02 mũi chỉ rời KT(3x0,5)cm, khi cắt chỉ vết thương có KT(3x2)cm bờ mép vết thương sắc gọn có chiều từ trước ra sau. Ngoài ra còn các vết thương khác là do quá trình cấp cứu và mổ đặt ống dẫn lưu tại Bệnh viện.
- Mổ cổ, ngực, bụng: Thấy tổ chức dưới da vùng ngực tương ứng với vết thương đã mổ tả bám tụ máu, rách đứt xương ức, cung trước các xương sườn số 2; 3; 4 bên phải, xương sườn số 2; 3 bên trái KT(12x9)cm. Khoang ngực hai bên có khoảng 500ml máu, rách cơ liên sườn mặt bên tại khoang liên sườn số 3; 4; 6; 7; 8 bên phải. Phổi hai bên xung huyết sẫm màu. Tại mặt trước thùy trên phổi phải có vết rách nhu mô phổi được khâu bằng 01 mũi chỉ rời KT(2,8x0,2)cm bờ mép sắc gọn. Mặt bên thùy trên phổi phải có vết rách nhu mô phổi được khâu bằng một mũi chỉ rời KT(1,5x0,2)cm bờ mép sắc gọn. Mặt trước bên thùy giữa phổi phải có vết rách nhu mô phổi được khâu bằng 4 mũi chỉ rời KT(5x1)cm bờ mép sắc gọn. Bao tim xung huyết không tổn thương, bên trong bao tim có 03ml dịch màu vàng chanh, cơ tim không tổn thương, bên trong các buồng tim có máu không đông. Khi quản xung huyết trong lòng khí quản có nhiều dịch máu. Mặt sau bên thùy gan phải có diện rách bao gan KT (13x3,5)cm. Tụ máu bao thận phải KT(11x0,5)cm, thận trái không tổn thương. Dạ dày xung huyết không tổn thương, bên trong dạ dày có khoảng 500g thức ăn và dịch đã nhuyễn. Các quai ruột xung huyết không tổn thương. Tử cung xung huyết, bên trong buồng tử cung không có tổ chức thai nhi.
Bản Kết luận giám định số 353B/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của V1 - Bộ C đối với tử thi Lê Thị M, kết luận: Trong máu, mẫu đầu, mẫu phủ tạng và chất chứa trong dạ dày ghi thu của tử thi Lê Thị M gửi giám định đều không tìm thấy các chất độc thường gặp.
Bản Kết luận giám định mô bệnh học số 353A/KL-KTHS ngày 06/02/2024 của V1 - Bộ C đối với tử thi Lê Thị M, kết luận: Hình ảnh kèm lưỡi máu các tạng; phổi xuất huyết mạnh, rách đứt phế nang; xuất huyết nhu mô gan dưới bao.
Bản Kết luận giám định tử thi số 23/KLGĐTT-PC09 ngày 10/3/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh H đối với tử thi Lê Thị M, kết luận: Nguyên nhân chết: Sốc mất máu cấp do vết thương ngực hở làm rách nhu mô phổi. Thể loại chết: Không tự nhiên. Thời gian chết: Khoảng 03 đến 05 giờ tính đến thời điểm khám nghiệm tử thi (14 giờ 30 phút ngày 12/01/2024).
* Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương vùng ngực phải được khâu bằng 02 mũi chỉ rời KT(03x0,5)cm do vật sắc nhọn gây ra; Vết thương rách đứt xương ức, cung trước các xương sườn số 04 bên phải do vật sắc nhọn gây ra; Vết thương mặt trước thùy trên phổi phải; mặt bên thùy trên phổi phải và mặt trước bên thùy giữa phổi phải do vật sắc nhọn gây ra.
Bản Kết luận giám định số 350/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của V1 - Bộ C, kết luận: Chất màu nâu nghi máu thu tại hiện trường ký hiệu "A1" gửi giám định là máu người và là máu của Lê Thị M; trên thanh kiếm ký hiệu "A4" và bộ quần áo ký hiệu "A5" gửi giám định đều bám dính máu người và đều là máu của Lê Thị M. Không phát hiện thấy máu của Đặng Quang S.
Bản kết luận giám định số 57/KL-KTHS (KTS) ngày 25/02/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh H, kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 (hai) File video được niêm phong ký hiệu "CAM S" gửi giám định; Trích xuất hình ảnh đối tượng trong video có bản ảnh kèm theo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bà Hoàng Thị B là đại diện của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quá trình điều tra, bị cáo Đặng Quang S đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng và đồ vật thu giữ gồm: 02 điện thoại di động, 01 thanh kiếm, 01 chiếc quần đùi, 01 chiếc áo phông cộc tay, 01 ga trải giường, 02 que tăm bông hai đầu có bám dính chất mầu nâu đỏ, 01 áo khoác da màu cam, đang được quản lý tại Kho vật chứng Công an tỉnh H; 01 USB lưu trữ nội dung lời khai nhận tôi của bị cáo S; 01 USB lưu trữ 2 file video hình ảnh được trích xuất từ Camera an ninh tại Căn hộ số 6A06, Chung cư L được lưu tại hồ sơ vụ án.
Đối với chị Đặng Thị Kim A, khi S đến gửi xe rồi bỏ trốn, chị Kim A không biết việc S trước đó đã có hành vi giết người. Do vậy, không có căn cứ để xem xét xử lý.
Cáo trạng số: 49/CT-VKS-P2 ngày 17/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo Đăng Quang S1 về tội: “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố:
Bị cáo Đặng Quang S phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Quang S từ 15 năm đến 16 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định pháp luật.
- * Luật sư Nguyễn Hùng P bào chữa cho bị cáo Đặng Quang S: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất.
- * Bị cáo không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không bổ sung luận cứ bào chữa của Luật sư và xin Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- * Người đại diện của bị hại bà Hoàng Thị B không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về trách nhiệm dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm quay về chăm sóc cho các con.
- * Người có quyền lợi liên quan chị Đặng Thị Lâm T2 không yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn các chi phí cấp cứu, mai táng cho bị hại Lê Thị M mà chị đã thay mặt gia đình thực hiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; phù hợp khách quan với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản khám nghiệm tử thi; Kết luận giám định pháp y và các tài liệu liên quan khác. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 11/01/2024 tại căn hộ S Tòa nhà C, chung cư L, Tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, Đặng Quang S đã dùng 01 thanh kiếm dài 99,5cm, lưỡi kiếm sắc nhọn bằng kim loại sáng màu dài 72,5cm, chỗ rộng nhất của lưỡi kiếm là 03cm đâm 01 nhát trúng vào vùng ngực phải của chị Lê Thị M. Hậu quả làm chị Lê Thị M tử vong.
Bị cáo Đặng Quang S là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Chỉ vì nguyên cớ nhỏ nhặt trong cuộc sống của vợ chồng và để giải tỏa bức xúc cá nhân, bị cáo đã dùng thanh kiếm sắc nhọn là hung khí nguy hiểm có tính sát thương cao đâm 01 nhát vào ngực của chị M là vùng trọng yếu trên cơ thể. Bằng hành vi khách quan đã thể hiện ý thức chủ quan của bị cáo cố ý tước đoạt tính mạng của bị hại, thể hiện tính côn đồ, hung hãn, coi thường tính mạng của người khác. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Đặng Quang S về tội Giết người, với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là "Có tính chất côn đồ" theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm tính mạng, quyền sống của người khác được pháp luật bảo vệ; ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải xét xử nghiêm minh, dành cho bị cáo một hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
- Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của bản thân. Bố đẻ của bị cáo là ông Đặng Quang T được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba; đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về đặc điểm nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã 02 lần bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học phòng ngừa tội phạm chung.
- Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, đại diện bị hại tự nguyện không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 chiếc ga giường ký hiệu A2; 02 que tăm bông có hai đâu bám chất màu nâu đỏ đã khô ký hiệu A3; 01 áo khoác màu da cam ký hiệu A6; 01 thanh kiếm trong tình trạng phần lưỡi vẫn tra trong vỏ kiếm bằng kim loại; 01 chiếc quần đùi cạp chun màu xám có chữ A2 và 01 chiếc áo phông cộc tay cổ bẻ màu xám có chữ “Adidas” ký hiệu “KQA” là vật chứng trong vụ án, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 02 chiếc điện thoại di động trông niêm phong ký hiệu “ĐT SƠN 1, ĐT SƠN 2”, thu giữ của bị cáo không liên quan hành vi phạm tội nên trả cho bị cáo.
- 01 USB lưu trữ nội dung lời khai nhận tôi của bị cáo S; 01 USB lưu trữ 2 file video hình ảnh được trích xuất từ Camera an ninh tại Căn hộ S, Chung cư L tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Đặng Quang S phạm tội “Giết người”.
- Xử phạt: Bị cáo Đặng Quang S 15 (Mười lăm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/01/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy:
- + 01 niêm phong ký hiệu “KQA”, bên trong có 01 thanh kiếm trong tình trạng phần lưỡi vẫn tra trong vỏ kiếm bằng kim loại; 01 chiếc quần đùi cạp chun màu xám có chữ Adidas màu đen và 01 chiếc áo phông màu xám có chữ Adidas màu xám;
- + 01 niêm phong ký hiệu “A2”, bên trong có 01 chiếc ga trải giường kẻ sọc, có bám dính chất màu nâu đỏ;
- + 01 niêm phong ký hiệu “A3”, bên trong có 02 que tăm bông hai đầu bám dính chất màu nâu đỏ đã khô;
- + 01 niêm phong ký hiệu “A6”, bên trong có 01 áo khoác màu da cam kiểu của nam giới, tại mặt áo bên ngoài phía trước có bám dính chất màu nâu đỏ.
- Trả lại cho bị cáo Đặng Quang S 02 chiếc điện thoại di động niêm phong ký hiệu “ĐT SƠN 1”, “ĐT SƠN 2”.
- Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 USB lưu trữ nội dung lời khai nhận tội của bị cáo S; 01 USB lưu trữ 2 file video hình ảnh được trích xuất từ Camera an ninh tại Căn hộ S, Chung cư L.
(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên).
- Về án phí: Bị cáo Đặng Quang S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của bị hại, người có quyền lợi liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Biểu |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về giết người
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Quang S - Phạm tội giết người
