Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 57/2024/HS-ST

Ngày: 07/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mi Mi.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đào Thị Mộng Trinh

2. Ông Bùi Nhiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Kim Quy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lương Tiểu Hậu – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2024/HSST ngày 07 tháng 5 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 24/5/2024 đối với bị cáo:

PHAN KIM HUY (Tên gọi khác: Bát Giới) - Sinh năm: 1991; Nơi sinh: Bình

Thuận. Nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Q: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông Phan Văn T và bà Nguyễn Thị Thanh B; Chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 05/01/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 01/2011/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 11/12/2011, chưa được xóa án tích; Ngày 21/10/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xử phạt 15 tháng tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 89/2014/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 27/9/2015, chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 13/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 75/2016/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 21/4/2017.

- Ngày 01/10/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xử phạt 02 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 47/2018/HSST.

- Ngày 13/3/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xử phạt 08 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và 05 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 13 năm tù tại bản án số 10/2019/HS-ST.

- Ngày 26/4/2019, Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận ban hành Quyết định tổng hợp hình phạt số 01/2019/QĐ-CA đối với Phan Kim H, buộc phải chấp hành hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 47/2018/HSST ngày 01/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận và bản án hình sự sơ thẩm số 10/2019/HS-ST ngày 13/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, tổng hợp hình phạt chung của cả hai bản án là 15 năm tù.

- Ngày 26/4/2019, Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận ban hành Quyết định thi hành án phạt tù số 91/2019/QĐ-CA đối với Phan Kim H, thi hành hình phạt 15 năm tù theo Quyết định tổng hợp hình phạt số 01/2019/QĐ-CA của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/3/2018.

- Ngày 27/9/2017, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ xử phạt vi phạm hành chính, hình thức: phạt tiền, mức phạt: 85.000.000 đồng về hành vi vận chuyển 3.199 bao thuốc lá nhập lậu tại Quyết định số 3392/QĐ-XPVPHC.

Bị cáo hiện đang chấp hành Quyết định thi hành án phạt tù số 91/2019/QĐ-CA ngày 26/4/2019 của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tại Trại giam T2 thuộc Bộ C (Z30D) từ ngày 27/3/2018. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

  • 1/ Ông Phan Văn T – Sinh năm 1959;
  • 2/ Bà Phan Kim H1 – Sinh năm 1981;

Cùng địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Kim H1: Ông Phan Văn T – Sinh năm 1959. Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H- Bình Thuận (có mặt).

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Ngọc D – sinh năm 1983 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đầu năm 2016, bà Phan Kim H1, là chị ruột của H có nhờ cha ruột là ông Phan Văn T, cùng ở thôn K, xã H, huyện H mua lại xe mô tô, biển số 86B3-252.97 của Dương Quốc M, ở khu phố P, thị trấn P, huyện H nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Ông T là người trực tiếp quản lý, sử dụng xe mô tô này.

Khoảng 16 giờ ngày 03/6/2016, tại khuôn viên nhà thờ K, thuộc thôn K, xã H, H hỏi mượn xe mô tô, biển số 86B3-252.97 để đi chơi thì ông T tin tưởng, đồng ý cho mượn. Sau khi mượn được xe, H điều khiển đi vào thị xã L chơi. Đến khoảng 10 giờ ngày 05/6/2016, bà H1 nhắn tin vào điện thoại của H nói đem xe mô-tô về trả nhưng H không trả lời tin nhắn và không đem xe mô-tô về. Sau đó, H điều khiển xe mô-tô đi về thành phố P, đi đến tiệm internet “Không Gian” trên đường T để chơi game, dưới hình thức “bắn cá”. Tại đây, H chơi game “bắn cá” thua hết số tiền 400.000 đồng, do cần tiền để chơi game “bắn cá” và H nhìn thấy một người tên “Âu Lạc” (không rõ họ, tên thật và địa chỉ) đang chơi, thắng được nhiều tiền nên H nảy sinh ý định cầm cố xe mô-tô, biển số 86B3-252.97 để lấy tiền. H hỏi người người tên “Âu Lạc” có nhận cầm cố xe mô-tô không. Người tên “Âu Lạc” đồng ý nhận cầm cố xe mô-tô, biển số 86B3-252.97 với số tiền 4.000.000 đồng, tiền lãi 100.000đ/ngày. Có tiền từ việc cầm cố xe mô-tô, H sử dụng chơi game “bắn cá” và đã thua hết số tiền này.

Đến khoảng 01 giờ ngày 11/6/2016, H đi về lại nhà nhưng lén lút bật chốt cửa, lẻn vào bên trong nhà lấy quần áo để thay. Lúc này, H thấy mọi người trong nhà đã ngủ say, gần đầu nằm của bà H1 có để 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 6 Plus 128GB của bà H1 nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt để cầm cố lấy tiền tiêu xài. H lén lút đi đến, lấy điện thoại bỏ vào trong túi quần rồi tẩu thoát ra bên ngoài. H tiếp tục đi đến tiệm internet “Không Gian” ngủ cho đến sáng.

Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, bà H1 phát hiện bị mất điện thoại di động, bà H1 nghi ngờ H là người đã lấy trộm nên kêu bà Nguyễn Thị Thanh B, là mẹ ruột đến nhờ anh Nguyễn Ngọc D, ở thôn K, xã H, huyện H đi tìm giúp. Anh D tìm thì gặp H tại tiệm internet “Không Gian”. Nhìn thấy H đang giữ điện thoại di động Iphone 6 Plus 128GB của bà H1, anh D hỏi: “Điện thoại này ở đâu?”, H nói: “Điện thoại ở đâu mày hỏi chi, thôi mày đi về đi”. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, H tiếp tục cầm cố điện thoại trên cho người tên “Âu Lạc” lấy số tiền 2.500.000 đồng để chơi game “bắn cá” và đã thua hết số tiền này.

Biết được điện thoại di động trên là của bà H1 nên anh D đã lấy số tiền 2.500.000 đồng của anh D đưa cho người tên “Âu Lạc” để chuộc lại điện thoại rồi đem về đưa lại cho bà H1. Sau khi nhận lại được điện thoại di động bị mất trộm, bà H1 đã trả lại cho anh D số tiền 2.500.000 đồng. Sau đó, bà H1, ông T tiếp tục nhờ anh D đi tìm người tên “Âu Lạc” để chuộc lại xe mô tô, biển số 86B3-252.97 với số tiền 4.700.000 đồng.

Ngày 10/6/2016 và 15/6/2016, ông T và bà H1 đến Công an xã H trình báo sự việc. Công an xã H tiếp nhận tin báo, xác minh, mời H đến trụ sở làm việc, H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Kết luận định giá tài sản số 31/2016-HĐĐGTT ngày 02/8/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 xe mô tô, biển số 86B3-252.97, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu vàng đen, số khung: FC10DY027477, số máy: 1FC1-027490, giá trị tại thời điểm chiếm đoạt 19.600.000 đồng, giá trị sử dụng còn lại là 65%. Thành tiền: 19.600.000 đồng x 65% = 12.740.000 đồng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6 Plus 128GB, giá trị tại thời điểm chiếm đoạt 20.590.000 đồng, giá trị sử dụng còn lại là 80%. Thành tiền 20.590.000 đồng x 80% = 16.472.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt: 29.212.000 đồng.

Kết luận giám định số 671/KLGĐ-PC54 ngày 12/12/2016 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

...

2. Đối tượng giám định:

a. Tài liệu cần giám định:

- “Giấy ủy quyền” có chữ ký mang tên Phan Kim H1, đề ngày 22/6/2016 (bút lục 60; ký hiệu A).

b. Tài liệu mẫu so sánh:

- “Đơn yêu cầu” có chữ ký, chữ viết đứng tên Phan Kim H1, đề ngày 15/6/2016 (bút lục 59; ký hiệu M1).

- “Đơn xin bãi nại” có chữ ký đứng tên Phan Kim H1, đề ngày 22/6/2016 (bút lục 61; ký hiệu M2).

- 03 biên bản ghi lời khai có chữ ký đứng tên Phan Kim H1, đề các ngày 15/6/2016, 16/6/2016 và 22/6/2016 (bút lục từ 62 đến 69; ký hiệu từ M3 đến M5).

...

5. Kết luận giám định:

Chữ ký, chữ viết mang tên Phan Kim H1 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết đứng tên Phan Kim H1 trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M1 đến M5 là do cùng một người ký, viết.

Kết luận giám định số 319/KL-KTHS ngày 25/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

...

II. Đối tượng giám định:

1. Mẫu cần giám định:

- 01 “Biên bản về việc trả lại tài sản” đề ngày 02/8/2016, có chữ ký, chữ viết mang tên Phan Kim H1 (ký hiệu A).

2. Mẫu so sánh:

05 tài liệu có chữ ký, chữ viết đứng tên Phan Kim H1, bao gồm:

- 01 “Đơn yêu cầu” đề ngày 15/6/2016 (ký hiệu M1).

- 01 “Đơn xin bãi nại” đề ngày 22/6/2016 (ký hiệu M2).

- 03 biên bản ghi lời khai đề ngày 15/6/2016 (ký hiệu M3), đề ngày 16/6/2016 (ký hiệu M4) và đề ngày 22/6/2016 (ký hiệu M5).

...

V. Kết luận giám định:Chữ ký, chữ viết mang tên Phan Kim H1 dưới mục “Người nhận” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết đứng tên Phan Kim H1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M5 là do cùng một người ký, viết.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

01 xe mô tô, biển số 86B3-252.97 và 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 6 Plus 128GB, sau khi tạm giữ và làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho ông Phan Văn T và bà Phan Kim H1.

Về dân sự:

Sau khi nhận lại tài sản, ông T và bà H1 không yêu cầu bồi thường gì khác về dân sự, cũng không yêu cầu bồi thường số tiền 7.200.000 đồng là tổng số tiền chuộc lại xe mô tô và điện thoại vì các anh chị em trong gia đình đã góp vào trả cho H, ông T đã nhận số tiền này đầy đủ. Ông T và bà H1 đã có đơn bãi nại, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H.

Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKSHTB ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo Phan Kim H về tội: “Trộm cắp tài sản” và tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 và điểm đ khoản 2 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: bị cáo Phan Kim H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng:

Điểm c khoản 2 Điều 138; Điểm đ khoản 2 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 55; Khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Phạt Phan Kim H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung cả hai tội buộc Phan Kim H phải chấp hành là 04 năm đến 05 năm tù.

Tổng hợp hình phạt 15 (Mười lăm) năm tù của Bản án số 47/2018/HSST ngày 01/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận và bản án số 10/2019/HSST ngày 13/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, đã có hiệu lực pháp luật. Buộc Phan Kim H (Tên gọi khác: Bát Giới) phải chấp hành hình phạt chung các bản án là từ 19 năm tù đến 20 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 27/3/2018.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phan Kim H khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện H, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Lợi dụng sự sơ hở của gia đình trong việc quản lý tài sản, bị cáo H đã nhiều lần chiếm đoạt xe mô-tô, điện thoại của cha và chị gái mình. Cụ thể như sau: Khoảng 16 giờ ngày 03/6/2016, H mượn xe mô-tô 86B3-252.97 của chị gái là Phan Kim H1 nhưng do ông Phan Văn T là cha của H quản lý để đi chơi, sau đó điều khiển đi thị xã L và đến ngày 05/6/2016 về lại Phan T1 nảy sinh ý định chiếm đoạt bằng cách thế chấp xe mô-tô 86B3-252.97 cho người tên Âu L tại tiệm internet “Không Gian” với số tiền 4.000.000đ. Không dừng lại ở đó, đến ngày 11/6/2016, Phan Kim H về lại nhà lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus 128GB của chị gái là Phan Kim H1 tiếp tục đến tiệm Internet “Không Gian” thế chấp cho người tên Âu L với số tiền 2.500.000đ. Sau đó, Phan Kim H1 nhờ người chuộc lại điện thoại Iphone 6 plus 128GB với giá 2.500.000đ, xe mô tô 86B3-252.97 với giá 4.700.000đ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 31/2016/HĐĐGTT ngày 02/8/2016 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: 01 xe mô tô trị giá 12.740.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 trị giá 16.472.000đ. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 29.212.000đ.

Hành vi của bị cáo Phan Kim H đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản”.

Về áp dụng pháp luật: Xét bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước thời điểm Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực pháp luật nên Tòa án áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, đồng thời áp dụng các quy định tương tự của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giải quyết vụ án.

Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đã tái phạm chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội là tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 và điểm đ khoản 2 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo H khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo đã tích cực tác động gia đình khắc phục hậu quả, anh chị trong gia đình bị cáo đã bồi thường lại số tiền trên cho bị hại do ông Phan Văn T nhận thay, được xem như bị cáo bồi thường. Bị hại xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về hình phạt:

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bản thân bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nhưng với bản tính ăn chơi đua đòi và để có tiền thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân, bị cáo đã lợi dụng quan hệ cha con nên mượn xe mô tô biển số 86B3-252.97 đi chơi sau đó nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản bằng cách thế chấp xe và sau đó ít ngày tiếp tục lẻn về nhà chiếm đoạt tài sản của chị gái là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, để tiêu xài cá nhân. Trước đó, bị cáo đã bị xét xử về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” chưa được xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện đạo đức mà vẫn chứng nào tật ấy, lợi dụng sự tin tưởng của cha, sự sơ hở trong quản lý tài sản của chị gái để nhiều lần chiếm đoạt tài sản của gia đình.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, thể hiện sự xem thường pháp luật. Do đó, cần lên cho bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị với bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định khi lượng hình.

Tại Quyết định tổng hợp hình phạt số 01/2019/QĐ-CA ngày 26/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Phan Kim H phải chấp hành hình phạt của 02 bản án hình sự sơ thẩm. Bản án số 47/2018/HSST ngày 01/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận và bản án số 10/2019/HSST ngày 13/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Tổng hợp chung của 02 bản án buộc bị cáo Phan Kim H phải chấp hành là 15 (mười lăm) năm tù, đã có hiệu lực pháp luật sẽ được tổng hợp vào bản án này, buộc bị cáo Phan Kim H phải chấp hành hình phạt chung của các bản án.

[5] Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô, biển số 86B3-252.97 và 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 6 Plus 128GB, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho ông Phan Văn T và bà Phan Kim H1 nên Tòa không xem xét giải quyết.

[6] Về dân sự: Gia đình Phan Kim H đã bồi thường cho bị hại Phan Kim H1, số tiền này bà H1 đã ủy quyền lại cho cha là Phan Văn T quản lý và không yêu cầu gì thêm, nên Tòa không xem xét giải quyết.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với người có tên “Âu Lạc” là người đã nhận cầm cố xe mô tô, biển số 86B3-252.97 và điện thoại di động Iphone 6 Plus 128GB do Phan Kim H chiếm đoạt của người khác, quá trình điều tra, không xác định được họ, tên thật và địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không đủ cơ sở để xử lý.

Bị cáo Phan Kim H (Tên gọi khác: Bát Giới) phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm c khoản 2 Điều 138; Điểm đ khoản 2 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 50, Điều 55 và Khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào Điều 135, Điều 136, Điều 292, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Phan Kim H (Tên gọi khác: Bát G) phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Phan Kim H

(Tên gọi khác: Bát Giới) 02 (Hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 (Hai) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc Phan Kim H phải chấp hành hình phạt chung là 04 (Bốn) năm tù.

Tổng hợp hình phạt 15 (Mười lăm) năm tù, đã có hiệu lực pháp luật của Bản án số 47/2018/HSST ngày 01/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận và bản án số 10/2019/HSST ngày 13/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết. Buộc Phan Kim H (Tên gọi khác: Bát Giới) phải chấp hành hình phạt chung các bản án là 19 (Mười chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 27/3/2018.

Về án phí: Bị cáo Phan Kim H (Tên gọi khác: Bát G) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo, bị hại, đại diện theo ủy quyền của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/6/2024).

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND huyện HTB;
  • - Công an huyện HTB;
  • - Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mi Mi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (trộm cắp tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 57/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger