Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST

Ngày 07-5-2024

Về việc: “Không công nhận quan

hệ vợ chồng”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Công Định

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tống Đăng Mạnh

Bà Vũ Thị Mai

Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 07/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 135/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/3/2024 việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/4/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:Nguyễn Thị H, sinh năm 1968 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Ả, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1965 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Ả, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 22/3/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn C kết hôn với nhau vào năm 08/11/1987 (âm lịch) theo phong tục tập quán địa phương, trước khi cưới ông bà có sự tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau ngày cưới bà về làm dâu ngay nhà ông C. Tuy nhiên trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng thường xuyên có lời qua tiếng lại, ông C có tính gia trưởng, hay chửi xúc phạm bà, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà đề nghị Toà án giải quyết không công nhận giữa bà và ông Nguyễn Văn C là vợ chồng.

Về con chung: Bà và ông Nguyễn Văn C có 03 con chung là Nguyễn Thị H1, sinh năm 1989; Nguyễn Văn H2, sinh năm 1990 và Nguyễn Thị N, sinh năm 1994, hiện tất cả các con đã trưởng thành khoẻ mạnh phát triển bình thường nên bà không đề nghị Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ: Bà không đề nghị Toà án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn C trình bày: Ông xác định về thời điểm kết hôn và việc ông và bà H không đăng ký kết hôn như bà H trình bày là đúng. Ông xác định về mâu thuẫn vợ chồng như bà H trình bày là đúng, tuy nhiên ông chửi là để dậy dỗ, bảo ban bà H còn thực tế ông rất yêu thương bà H, nay bà hoàn đề nghị không công nhận vợ chồng với ông, ông không đồng ý vì ông vẫn còn tình cảm với bà H.

Về con chung: Ông và bà H có 03 con chung như bà H trình bày là đúng. Nay con chung đã trưởng thành và phát triển bình thường, đã xây dựng gia đình riêng nên ông không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ: Ông không đề nghị Toà án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 22/3/2024, UBND xã P cung cấp: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn C theo sổ sách và dữ liệu điện tử tra cứu thì ông C, bà H không đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, tuy nhiên địa phương nắm được hai vợ chồng có được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục dịa phương và sống chung như vợ chồng từ năm 1987 đến nay.

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự nguyên đơn, bị đơn chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 9; Điều 14; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 11, Điều 87 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn C.

Ngoài ra đại điện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Nguyễn Văn C, ông Nguyễn Văn C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Ả, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn C đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn C theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn C tự nguyện tìm hiểu và bắt đầu chung sống cùng nhau từ ngày 08/11/1987 (âm lịch), không đi đăng ký kết hôn. Tuy việc chung sống giữa bà H và ông C là hoàn toàn tự nguyện, nhưng đến nay các bên vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Tại điểm b khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định “Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết”. Ngoài ra, bà H, ông C đều thừa nhận trong cuộc sống hàng ngày hai bên có mâu thuẫn không thể hàn gắn. Căn cứ Điều 11, Điều 87 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX xác định có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H. Do đó, HĐXX xác định hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn C là hôn nhân không hợp pháp nên không được pháp luật công nhận.

[3.2] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn C đều xác định các con chung đều đã trưởng thành nên ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0006070 ngày 22/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 11, Điều 87 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000;

Căn cứ Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.

  1. Quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn C là vợ chồng.
  2. Về án phí:Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0006070 ngày 22/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - UBND xã Phượng Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Đặng Công Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H và Nguyễn Văn C không công nhận quan hệ vợ chồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger