Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ ANH

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 57/2023/HSST

Ngày: 06 – 11 – 2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Toàn
  2. Ông Nguyễn Xuân Tào

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Chính, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoành, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2003, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 50/2023/HSST ngày 22 tháng 9 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2023/XXHSST – HS, ngày 23/10/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên bị can: Võ Tá H; giới tính: Nam; tên gọi khác: không.

Sinh ngày: 10 tháng 7 năm 1970, tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký HKTT và chổ ở: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ văn hoá:Lớp 03/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ, đảng phái: Quần chúng; con ông: Võ Tá H1 (Đã chết); con bà: Trần Thị N (Đã chết); vợ: Bùi Thị T; Sinh năm 1975; (Đã ly hôn). Hiện nay đang đi xuất khẩu lao động tại Thái Lan; con: 03 đứa, đứa lớn nhất sinh năm 1995, đứa nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/5/2020, Võ Tá H bị Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền, về hành vi Trộm cắp tài sản, theo Quyết định số 03/QĐ-XPHC. Đã chấp hành xong; biện pháp ngăn chặn đã áp dụng: Bị cáo Võ Tá H bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, kể từ ngày 13/7/2023 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa

Bị hại:

Bà Nguyễn Thị Q – sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

- Bà Hoàng Thị Lý H2 – sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 22/04/2023, Võ Tá H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 38K1-405.32 đến nhà chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1973, trú tại thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh chơi thì gặp chị Hoàng Thị Lý H2, sinh năm 1976, trú tại thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cũng đến nhà chị Q chơi. Sau khi đến nhà chị Nguyễn Thị Q, H đứng nói chuyện với chị H2 ở sân nhà một lúc thì chị Nguyễn Thị Q đi chăn bò về. Lúc này Chị Q và chị H2 cùng đi vào trong nhà chị Q, khi vào phòng ngủ, chị H2 thấy 02 (Hai) chiếc điện thoại di động để trên giường, nên chị H2 nói với chị Q “Hai điện thoại to rứa mà chị để đó, chị không cất kị mất ì”, nghe vậy, chị Q lấy 02 (Hai) chiếc điện thoại cất vào dưới chăn ở đầu giường ngủ. Quá trình chị H2 và chị Q vào trong nhà thì H vẫn đứng ở sân nhà chị Q. Một lúc sau, chị H2 đi ra điều khiển xe mô tô đi về nhà, còn chị Nguyễn Thị Q bận đi đón con nên nói với Võ Tá H đi về, rồi chị Q điều khiển xe mô tô rời khỏi nhà, nên Võ Tá H cũng điều khiển xe mô tô ra về. H đi được khoảng 50m thì dừng lại đi vệ sinh và nảy sinh ý định quay lại nhà chị Q để tìm tài sản trộm cắp. Khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô quay lại nhà chị Nguyễn Thị Q. Do nhà chị Q không khóa cổng và không khóa cửa nhà nên Võ Tá H đi vào và dựng xe ở sân nhà rồi đi vào phòng ngủ, khi vào trong phòng ngủ thấy ở góc đầu giường, phía dưới chăn, lộ ra một phần của 02 (Hai) chiếc điện thoại di động nói trên, nên Võ Tá H lấy 02 (Hai) chiếc điện thoại, bỏ vào túi quần đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô đi về. Trên đường đi về nhà, cách nhà chị Nguyễn Thị Q khoảng 200m, Võ Tá H gặp một nam thanh niên điều khiển xe mô tô đi ngược chiều với mình, nên H nhờ người này tháo 02 (Hai) chiếc sim trong điện thoại vừa trộm cắp được và cho người này hai sim trên. Sau đó Võ Tá H điều khiển xe mô tô lên xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh làm thuê trồng cây Tràm, quá trình này H cất 02 (Hai) điện thoại nói trên ở túi quần của mình và không cho ai biết. Tài sản mà Võ Tá H trộm cắp của chị Nguyễn Thị Q gồm: Một chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi K305G, màu xanh, đã qua sử dụng và Một chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung J4, màu đen, đã qua sử dụng. Đến ngày 16/5/2023, chị Nguyễn Thị Q đến Công an xã K trình báo sự việc mất trộm 02 (Hai) chiếc điện thoại nói trên. Cùng ngày, Võ Tá H đến Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, giao nộp hai chiếc điện thoại trộm cắp được và đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm phạm tội của mình.

Theo kết luận định giá tài sản số 18/HĐĐG ngày 01/6/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện K, tỉnh Hà Tĩnh kết luận: 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi K305G, màu xanh (Đã qua sử dụng) trị giá tại thời điểm chiếm đoạt là 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng); 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung J4, màu đen (Đã qua sử dụng) trị giá tại thời điểm chiếm đoạt là là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng). Tổng trị giá tài sản Võ Tá H chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Q là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Vật chứng thu giữ, xử lý: Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ, xử lý các vật chứng bao gồm:

  • + Vật chứng thu giữ đã xử lý:
  • - 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi K305G, màu xanh, đã qua sử dụng và 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung J4, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. Thu của Võ Tá H, đã trả lại cho chủ sỡ hữu Nguyễn Thị Q.
  • + Vật chứng thu giữ chưa xử lý:
  • - 01 (Một) chiếc xe mô tô xe biển kiểm soát 38K1-405.32, nhãn hiệu Honda, loại BLADE, màu đen, vàng, đồng, số máy JA 36F0471245, số khung 3652GY019005, đã qua sử dụng thu của Võ Tá H. Theo kết luận định giá tài sản số 29/HĐĐG ngày 25/8/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, kết luận: Trị giá của chiếc xe còn lại 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

Chiếc xe mô tô nói trên hiện nay đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.

Tại bản Cáo trạng số 53/CT- VKSKA ngày 19 tháng 9 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Võ Tá H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Võ Tá H 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) chiếc xe mô tô xe biển kiểm soát 38K1- 405.32, nhãn hiệu Honda, loại BLADE, màu đen, vàng, đồng, số máy JA 36F0471245, số khung 3652GY019005, đã qua sử dụng.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo, xử buộc Võ Tá H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Chứng cứ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, lời khai người làm chứng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 17 giờ 20 phút ngày 22/4/2023, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sỡ hữu, Võ Tá H đã lén lút vào nhà chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1973 trú tại thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh lấy trộm 01 (Một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi K305G, màu xanh, trị giá 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng) và 01 (Một) điện thoại di động hiệu S J4, màu đen trị giá 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng). Tổng trị giá tài sản Võ Tá H chiến đoạt của chị Nguyễn Thị Q là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Đến ngày 16/5/2023, Võ Tá H đến Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đầu thú, nộp hai chiếc điện thoại và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Hành vi của Võ Tá H đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm Cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này, Võ Tá H thực hiện hành vi phạm tội một mình, không có đồng phạm.

[3]. Tích chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Đối với Võ Tá H mặc dù vào ngày 10/5/2020 bị Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền, về hành vi Trộm cắp tài sản, theo Quyết định số 03/QĐ-XPHC ngày 10/5/2020. Đã chấp hành xong, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường kỷ cương pháp luật Nhà nước, làm mất trật tự, trị an trên địa bàn khu dân cư. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Bị cáo Võ Tá H được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội thành khẩn khai báo; đầu thú và tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo, nhưng dù xem xét đến đâu thì cũng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy đình tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Đối với các vấn đề liên quan:

Đối với nam thanh niên đã giúp bị cáo Võ Tá H tháo sim điện thoại ra khỏi hai máy điện thoại mà bị cáo trộm cắp của chị Nguyễn Thị Q, qua xác minh không rõ lai lịch nam thanh niên này, mặt khác quá trình điều tra không có căn cứ để kết luận nam thanh niên này đồng phạm với bị cáo về tội Trộm cắp tài sản trên, nên không có căn cứ xử lý

[6]. Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Q 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi K305G, màu xanh, đã qua sử dụng và 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung J4, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Hiện nay còn lại 01 (Một) chiếc xe mô tô xe biển kiểm soát 38K1-405.32, nhãn hiệu Honda, loại BLADE, màu đen, vàng, đồng, số máy JA 36F0471245, số khung 3652GY019005, đã qua sử dụng thu của Võ Tá H. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe nói trên là công cụ, phương tiện phạm tội của bị cáo, vì vậy cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị mất trộm, chị Nguyễn Thị Q không có yêu cầu gì thêm về bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
  • Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo;

Tuyên bố bị cáo: Võ Tá H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt Võ Tá H 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) chiếc xe mô tô xe biển kiểm soát 38K1- 405.32, nhãn hiệu Honda, loại BLADE, màu đen, vàng, đồng, số máy JA 36F0471245, số khung 3652GY019005, đã qua sử dụng.

Về án phí: Xử buộc Võ Tá H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Phòng GĐKT;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng PC10;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Trại tạm giam;
  • - CA huyện Kỳ Anh;
  • - VKSND huyện Kỳ Anh;
  • - THA dân sự;
  • - THA hình sự;
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2023/HSST ngày 06/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 57/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Tá H phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger