|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 57/2024/DS-ST Ngày: 06-06-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Minh Hải.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Song Hoàn; Ông Nguyễn Văn Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn S - Kiểm sát viên.
Ngày 06/06/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 582/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á.
Địa chỉ trụ sở: Lầu H Tòa nhà A, 444A Cách mạng Tháng 8, Phường A, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: ông Từ Tiến P, chức vụ: Tổng Giám đốc; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị D; địa chỉ: lô A, A H, phường B, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Theo Giấy ủy quyền số 630/UQ-QLN.24 ngày 04/5/2024; có mặt.
Bị đơn: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963; địa chỉ: 1 đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (viết tắt là Ngân hàng) và ông Nguyễn Văn T ký 02 Hợp đồng tín dụng, cụ thể:
- Ngày 24/3/2015, hai bên ký Hợp đồng tín dụng trả góp số NAN.CN.370.240315 (số tài khoản vay: 195219219), ông T vay số tiền 330.000.000 đồng. Mục đích cho vay tiêu dùng. Thời hạn cho vay 60 tháng. Lãi suất trong hạn: 10%. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Phạt của một kỳ trễ hạn 200.000 đồng.
- Ngày 10/6/2015, hai bên ký Hợp đồng tín dụng trả góp số NAN.CN.995.100615 (số tài khoản vay: 198893829), ông T vay số tiền 100.000.000 đồng. Mục đích cho vay tiêu dùng. Thời hạn cho vay 60 tháng. Lãi suất trong hạn: 10%. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Phạt của một kỳ trễ hạn 200.000 đồng.
Hai khoản vay không có tài sản bảo đảm.
Ngày 06/07/2018, ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số NAN.CN.370.240315 ngày 24/3/2015.
Ngày 23/8/2018, ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số NAN.CN.995.100615 ngày 10/6/2015.
Ngân hàng chuyển khoản nợ của ông T sang nợ quá hạn, áp dụng lãi quá hạn 150% lãi trong hạn. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông T trả nợ nhưng ông T không trả và chuyển đi nơi khác không thông báo cho Ngân hàng biết địa chỉ cư trú hiện tại.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của Ngân hàng yêu cầu:
Buộc ông T phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 06/06/2024 là 314.6454.613 đồng, bao gồm:
- - Khoản nợ 1 theo Hợp đồng tín dụng số NAN.CN.370.240315 ngày 24/3/2015 gồm 113.400.000 nợ gốc; 38.5000.000 đồng nợ lãi trong hạn; 84.719.250 đồng lãi quá hạn; phí phạt 2.800.000 đồng.
- - Khoản nợ 2 theo Hợp đồng tín dụng số NAN.CN.995.100615 ngày 10/6/2015 gồm 36.666.654 đồng nợ gốc; 9.166.663 đồng nợ lãi trong hạn; 27.393.046 đồng lãi quá hạn; 2.000.000 đồng phí phạt.
Từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 07/06/2024), ông T phải tiếp tục trả lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại hai hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả hết nợ.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập, thông báo thụ lý vụ án và thông báo tham gia phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do và không có ý kiến đối với các yêu cầu của nguyên đơn.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn quá trình giải quyết vụ án đều vắng mặt và không có ý kiến gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn hai lần tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có đơn giải quyết vắng mặt nên việc xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.
- Về nội dung vụ án: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng khởi kiện ông T phải trả số tiền gốc và lãi theo hai hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên nên xác định quan hệ pháp luật là Tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn có địa chỉ cư trú tại thành phố V nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về xác định địa chỉ của bị đơn: Trong Hợp đồng tín dụng ghi địa chỉ thường trú ông T tại số A đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tại kết quả xác minh của Công an P1, thành phố V xác định ông T có đăng ký thường trú tại địa chỉ trên, đã bán nhà đi đâu không rõ. Căn cứ khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự, điểm a, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05-5-2017 của Hội đồng Thẩm phán thì việc ông T thay đổi địa chỉ không thông báo cho Ngân hàng biết nên thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Toà án xác định địa chỉ cuối cùng của bị đơn là 1007/15 đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
[1.3] Về thủ tục xét xử vắng mặt: Bị đơn đã được triệp tập hợp lệ lần hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Đối với Hợp đồng tín dụng: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ Ngày 24/3/2015, hai bên ký 02 Hợp đồng tín dụng trả góp số NAN.CN.370.240315 (Số tài khoản vay: 195219219) và Hợp đồng tín dụng trả góp số NAN.CN.995.100615 (Số tài khoản vay: 198893829) đủ cơ sở xác định ông T vay số tiền 430.000.000 đồng. Mục đích cho vay tiêu dùng. Thời hạn cho vay 60 tháng. Lãi suất trong hạn 10%. Lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Phạt của một kỳ trễ hạn 200.000 đồng. Khoản vay không có tài sản bảo đảm. Hai hợp đồng tín dụng trên đủ điều kiện có hiệu lực.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 06/07/2018 và ngày 23/8/2018, ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với hai khoản nợ trên. Ngân hàng chuyển khoản nợ của ông T sang nợ quá hạn, áp dụng lãi quá hạn 150% lãi trong hạn là đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và phù hợp với quy định pháp luật.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc ông T phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 06/06/2024 là 314.645.613 đồng, trong đó gồm: vốn gốc 150.066.654 đồng, lãi trong hạn 47.666.663 đồng, lãi quá hạn 112.112.296 đồng, phạt chậm trả 4.800.000 đồng. Từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 07/06/2026), ông T phải tiếp tục trả lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại 02 Hợp đồng tín dụng trả góp số NAN.CN.370.240315 ngày 24/3/2015 và Hợp đồng tín dụng trả góp số NAN.CN.995.100615 ngày 10/6/2015 cho đến khi trả hết nợ là đúng với thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký, phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong vụ án, phù hợp quy định tại các Điều 280, Điều 357, Điều 466 Bộ luật Dân sự, Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng, Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 nên chấp nhận.
[3] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, tuy nhiên bị đơn đều vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn không giao nộp tài liệu chứng cứ và không có ý kiến về tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp là từ bỏ quyền chứng minh, phải chịu hậu quả pháp lý của việc vắng mặt là phù hợp quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Xét ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm trên số nợ phải trả 314.645.613 đồng là 15.732.281 đồng.
- Ngân hàng không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 280, Điều 288, Điều 357, Điều 466 Bộ luật Dân sự, Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng, Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05-5-2017; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Văn T.
- 2. Buộc ông Nguyễn Văn T phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 06/06/2024 là 314.645.613 đồng, trong đó gồm: vốn gốc 150.066.654 đồng, lãi trong hạn 47.666.663 đồng, lãi quá hạn 112.112.296 đồng, phạt chậm trả 4.800.000 đồng.
- 3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 07/06/2026), ông T phải tiếp tục trả lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại 02 Hợp đồng tín dụng trả góp số NAN.CN.370.240315 ngày 24/3/2015 và Hợp đồng tín dụng trả góp số NAN.CN.995.100615 ngày 10/6/2015 cho đến khi trả hết nợ.
- 4. Án phí dân sự: ông Nguyễn Văn T phải chịu 15.732.281 đồng tiền án phí sơ thẩm.
- 5. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á số tiền 7.300.000 đồng (bảy triệu năm trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001446 ngày 18/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Minh Hải |
|
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Văn Hải Vũ Văn Chương |
THẨM PHÁN Ngô Thị Minh Hải |
Bản án số 57/2024/DS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 57/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
