Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 57/2024/DS-ST

Ngày: 06-6-2024

V/v: “Tranh chấp

hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày:

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lưu Thị Thôi

2. Ông Phạm Định Quốc

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 377/2023/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 254/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S

Địa chỉ trụ sở: Số B - B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đắc H – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh B (Theo Quyết định ủy quyền số 3270/2022/QĐ-PL ngày 26/12/2022).

Ông Nguyễn Đắc H ủy quyền lại cho ông Hồ Duy H1 – Chức vụ: Phó Giám đốc và ông Nguyễn Thái H2 – Chức vụ: Chuyên viên quản lý nợ tham gia tố tụng (Theo Giấy ủy quyền số 118/2023/GUQ-CNBT ngày 01/3/2023 và Giấy ủy quyền số 642/2023/GUQ-CNBT ngày 22/8/2023).

Trụ sở chi nhánh: Số C đường T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1974

Địa chỉ: khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa, có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thái H2, vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02/10/2023, bản tự khai, và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thái H2 trình bày:

Ngày 07/11/2018, bà Nguyễn Thị P đã ký với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) đối với số thẻ 356480-6533 với nội dung sau:

  • - Hạn mức sử dụng thẻ: 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng);
  • - Mục đích: tiêu dùng;
  • - Lãi suất: 2,76%/tháng.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 19.335.659 đồng (mười chín triệu ba trăm ba mươi lăm ngàn sáu trăm năm mươi chín đồng). Trong quá trình sử dụng thẻ, bà P đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 21.151.700 (hai mươi mốt triệu một trăm năm mươi mốt ngàn bảy trăm đồng). Bà P từ sau ngày 22/11/2022 không thanh toán thêm bất kỳ khoản nợ nào, đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà P và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 24 Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.

Ngân hàng TMCP S yêu cầu bà Nguyễn Thị P trả số tiền nợ gốc 14.677.142 đồng (mười bốn triệu sáu trăm bảy mươi bảy ngàn một trăm bốn mươi hai đồng), tiền lãi quá hạn tính đến ngày 06/6/2024 là 9.540.060 đồng (chín triệu năm trăm bốn mươi ngàn không trăm sáu mươi đồng), tổng cộng là 24.217.202 đồng (hai mươi bốn triệu hai trăm mười bảy ngàn hai trăm lẻ hai đồng) và tiếp tục thanh toán lãi phát sinh từ ngày 07/6/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ, đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải, nên không thể tiến hành hòa giải vụ án. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết có quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được Bộ luật Tố tụng dân sự quy định;

- Về nội dung vụ án: Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi cho bị đơn theo các văn bản đã ký kết. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Xét thấy nguyên đơn Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bà Nguyễn Thị P phải trả số tiền vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, nên xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn có địa chỉ tại khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

Xét thấy Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 07/11/2018 thể hiện thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung không trái với quy định của pháp luật nên có hiệu lực kể từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 385, Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nội dung Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 07/11/2018 thể hiện chủ thẻ đồng ý bị ràng buộc bởi Điều khoản và Điều kiện của thẻ tín dụng. Theo nội dung Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần S (đơn vị phát hành thẻ), áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại, do đó Ngân hàng áp dụng mức lãi suất quá hạn là phù hợp. Ngoài ra, Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng còn quy định các loại phí.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bà Nguyễn Thị P vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP S yêu cầu Nguyễn Thị P trả số tiền nợ gốc 14.677.142 đồng (mười bốn triệu sáu trăm bảy mươi bảy ngàn một trăm bốn mươi hai đồng), tiền lãi quá hạn tính đến ngày 06/6/2024 là 9.540.060 đồng (chín triệu năm trăm bốn mươi ngàn không trăm sáu mươi đồng), tổng cộng là 24.217.202 đồng (hai mươi bốn triệu hai trăm mười bảy ngàn hai trăm lẻ hai đồng) và tiếp tục thanh toán lãi phát sinh từ ngày 07/6/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi trả hết nợ vay là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, nên có căn cứ chấp nhận.

[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 262, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 385, Điều 401, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S
  2. Buộc bà Nguyễn Thị P trả số tiền nợ gốc 14.677.142 đồng (mười bốn triệu sáu trăm bảy mươi bảy ngàn một trăm bốn mươi hai đồng), tiền lãi quá hạn tính đến ngày 06/6/2024 là 9.540.060 đồng (chín triệu năm trăm bốn mươi ngàn không trăm sáu mươi đồng), tổng cộng là 24.217.202 đồng (hai mươi bốn triệu hai trăm mười bảy ngàn hai trăm lẻ hai đồng) và tiếp tục thanh toán lãi phát sinh từ ngày 07/6/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/9/2022, kèm theo Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần S (đơn vị phát hành thẻ).

  3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị P phải chịu 1.211.000 đồng (một triệu hai trăm mười một ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí 469.000 đồng (bốn trăm sáu mươi chín ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019003 ngày 14/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.

  5. Về quyền kháng cáo:
  6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/6/2024). Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS TP. Phan Thiết;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Lê Thảo Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/DS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 57/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buộc bà Nguyễn Thị Phượng trả số tiền nợ gốc 14.677.142 đồng (mười bốn triệu sáu trăm bảy mươi bảy ngàn một trăm bốn mươi hai đồng), tiền lãi quá hạn tính đến ngày 06/6/2024 là 9.540.060 đồng (chín triệu năm trăm bốn mươi ngàn không trăm sáu mươi đồng), tổng cộng là 24.217.202 đồng (hai mươi bốn triệu hai trăm mười bảy ngàn hai trăm lẻ hai đồng) và tiếp tục thanh toán lãi phát sinh từ ngày 07/6/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/9/2022, kèm theo Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (đơn vị phát hành thẻ).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger