|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2024/HS-ST Ngày: 05-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Linh Sương
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Đoàn Hồng Hải
- Bà Trần Thị Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân
Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 57/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Thanh B
sinh ngày 12 tháng 6 năm 1983, tại: Thanh Hóa; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; học vấn: 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông Trần Văn L, sinh năm 1935 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1937; có 08 người anh, chị, em, lớn nhất sinh năm 1958, nhỏ nhất sinh năm 1979; có vợ tên Lê Thị Ánh H, sinh năm 1981; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án: Không có; tiền sự: Ngày 18/8/2021, bị Tòa án nhân dân Quận 5 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 107/2021/QĐ-TA, bị cáo chấp hành xong quyết định ngày 28/4/2022; nhân thân: Ngày 14/9/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Hiếp dâm” và 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 80/2010/HSST, bị cáo chấp hành xong án phí hình sự và trách nhiệm dân sự, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2017.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an Q; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Ngô Duy H1, sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ B, Khu phố C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Với mục đích trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài nên vào khoảng 20 giờ ngày 23/10/2023, Trần Thanh B một mình vào Bệnh viện C tại địa chỉ: Số B N, Phường A, Quận E để tìm người sơ hở thực hiện việc trộm cắp. Khi đến hành lang tầng trệt trước cửa Khoa Chấn thương sọ não của Bệnh viện, B phát hiện ông Ngô Văn H2 đang nằm dưới đất nên B đến nằm kế bên trò chuyện với ông H2. Một lúc sau, ông H2 đi qua ngồi ở băng ghế nhựa kế bên chỗ nằm (cách khoảng 3 mét) để sử dụng điện thoại di động (hiệu S A14). Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, ông H2 đặt điện thoại trên xuống ghế trống rồi đứng dậy đi đến nhìn vào trong cửa K Chấn thương sọ não để xem tình hình mẹ ruột đang điều trị bệnh rồi quay lại chỗ nằm. Lúc này, B nhìn thấy ông H2 vẫn để điện thoại di động trên băng ghế nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. B giả vờ đến ngồi vào ghế trống cạnh chiếc điện thoại của ông H2, lợi dụng lúc ông H2 không để ý, B dùng áo khoác màu đen của mình trùm lên chiếc điện thoại của ông H2 (đang đặt trên băng ghế) rồi dùng tay trái lấy trộm được chiếc điện thoại trên (bọc phía trong áo khoác) rồi đi bộ ra ngoài cổng bệnh viện để tẩu thoát. Sau khi phát hiện bị mất điện thoại, ông H2 liền đến phòng bảo vệ của bệnh viện thông báo. Qua quan sát camera phát hiện Trần Thanh B có hành vi lấy trộm điện thoại nên các bảo vệ bệnh viện phối hợp với nhau giữ B lại và mời về Phòng bảo vệ làm việc, tại đây B thừa nhận hành vi trộm cắp điện thoại của ông H2 nên Tổ bảo vệ đưa B cùng tang vật đến Công an P, Quận E lập hồ sơ xử lý. Vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để thụ lý theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu S A14 (màu đen); 01 (một) ốp lưng bằng nhựa màu đỏ; 01 (một) áo thun ngắn tay màu xanh dương; 01 (một) áo khoác màu đen; 01 (một) quần đùi màu xanh rêu; 01 (một) quần dài màu đen; 01 (một) nón màu xanh rêu; 01 (một) đôi dép màu đen.
Tại Kết luận định giá số 111/KL-HĐĐGTS ngày 27/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Quận E - Ủy ban nhân dân Quận E kết luận: Chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14, đã qua sử dụng tỷ lệ mới 85%, thời điểm định giá tháng 10 năm 2023 có giá 2.300.000 (hai triệu ba trăm nghìn) đồng.
Về phần trách nhiệm dân sự: Ông Ngô Duy H1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường.
Tại Bản cáo trạng số 45/CT-VKS-Q5 ngày 09/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Thanh B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Trần Thanh B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu trên; bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Thanh B về tội “Trộm cắp tài sản”; quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả cho bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thanh B hình phạt tù giam với mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) ốp lưng bằng nhựa màu đỏ; 01 (một) áo thun ngắn tay màu xanh dương; 01 (một) áo khoác màu đen; 01 (một) quần đùi màu xanh rêu; 01 (một) quần dài màu đen; 01 (một) nón màu xanh rêu; 01 (một) đôi dép màu đen.
Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm quay về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Đối với sự vắng mặt của bị hại là ông Ngô Duy H1 tại phiên tòa, xét thấy: Tại giai đoạn điều tra, ông H1 đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và không có yêu cầu gì trong vụ án; việc bị hại vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Về tội danh: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thanh B tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa công khai, qua xét hỏi bị cáo Trần Thanh B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người biết việc, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/10/2023, tại Bệnh viện C, địa chỉ số B N, Phường A, Quận E, bị cáo Trần Thanh B đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 của ông Ngô Duy H1. Tại Kết luận định giá số 111/KL-HĐĐGTS ngày 27/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Quận E - Ủy ban nhân dân Quận E kết luận: Chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14, đã qua sử dụng tỷ lệ mới 85%, thời điểm định giá tháng 10 năm 2023 có giá 2.300.000 (hai triệu ba trăm nghìn) đồng.
Xét bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Do đó, hành vi của bị cáo Trần Thanh B đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây tâm lý lo lắng cho người dân. Bị cáo mặc dù nhận thức được hành vi xâm phạm quyền sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- [5.1] Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- [5.2] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cả, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả cho bị hại, do đó thiệt hại gây ra không lớn, cần xem là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nêu trên để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định.
- [5.3] Về nhân thân bị cáo:
Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị kết án về nhiều tội trong đó có tội xâm phạm sở hữu là “Cướp tài sản” nay lại tiếp tục phạm tội xâm phạm sở hữu của người khác cho thấy sau khi chấp hành xong hình phạt tù, hòa nhập cộng đồng bị cáo không chịu sửa đổi, rèn luyện bản thân để thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật.
- Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Qua đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Căn cứ Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, nhận thấy tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị cáo chưa thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội; bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có khả năng thi hành hình phạt tiền. Căn cứ khoản 2 Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A14 (màu đen) của ông Ngô Duy H1; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại tài sản bị chiếm đoạt cho ông H1 là đúng quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm;
- 01 (một) ốp lưng bằng nhựa màu đỏ; 01 (một) áo thun ngắn tay màu xanh dương; 01 (một) áo khoác màu đen; 01 (một) quần đùi màu xanh rêu; 01 (một) quần dài màu đen; 01 (một) nón màu xanh rêu; 01 (một) đôi dép màu đen. Xét đây là các vật dụng cá nhân của bị cáo mang theo khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng và tại phiên tòa bị cáo không có yêu cầu gì đối với các tài sản này nên tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo cũng như vấn đề xử lý vật chứng là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, đúng quy định nên được chấp nhận.
- Về án phí: Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Trần Thanh B 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 10 năm 2023.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021,
Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) ốp lưng bằng nhựa màu đỏ; 01 (một) áo thun ngắn tay màu xanh dương; 01 (một) áo khoác màu đen; 01 (một) quần đùi màu xanh rêu; 01 (một) quần dài màu đen; 01 (một) nón màu xanh rêu; 01 (một) đôi dép màu đen.
(Tình trạng giao nhận vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/4/2024 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc bị cáo Trần Thanh B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Linh Sương |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh B-Trộm cắp tài sản
