|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 57/2024/HS-ST Ngày: 04-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hồng
Ông Hoàng Quốc Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyễn Viết Cường - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngô Thành T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 14 tháng 01 năm 2002 tại Quảng Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ G, phường A, quận T, Tp Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1978 và bà Ngô Thị T1, sinh năm 1976. Tiền án: ngày 20/6/2023 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày 20/6/2023 về tội “Trộm cắp tài sản”, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/01/2024. Có mặt.
- Bị hại: Anh Huỳnh Trọng T2, sinh năm 2004, trú tại: K H, phường H, quận T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 2002, trú tại: K V, quận T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Anh Huỳnh Tấn N, sinh năm 2005, trú tại: K V, quận T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Ông Lê Quang T3, sinh năm 1985, trú tại: I T, quận T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1978, trú tại: I T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 25/10/2023, Nguyễn Ngô Thành T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xám đen, biển kiểm soát 43D1-046.86 đến phòng trọ của anh Nguyễn Minh H tại địa chỉ K V, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng để rủ bạn đi uống cà phê. Khi đến nơi, T gặp anh H đi ra khỏi phòng và khép hờ cửa lại, T mở cửa vào để đi vệ sinh. Lúc này, T nhìn thấy anh Huỳnh Trọng T2 và anh Huỳnh Tấn N đang ngủ trong phòng, gần cửa ra vào có để 02 điện thoại di động đang sạc pin nên T nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại Iphone 11 Promax màu đen của anh T2 để bán lấy tiền tiêu xài do trước đó T hay mượn điện thoại nên biết mật khẩu. T đến rút dây sạc, tắt nguồn, lấy điện thoại bỏ vào túi quần, sau đó đi đến đường V uống cà phê với anh H.
Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, anh T2 điện thoại cho anh H báo mất điện thoại nên anh H và T cùng quay về phòng trọ, sau đó T chở anh T2 về nhà ở đường H. Khi anh T2 đi vào nhà, T đem điện thoại trộm cắp của anh T2 đến tiệm Đ ở số I T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng do anh Lê Quang T3 làm chủ để bán; khi bán T mở nguồn điện thoại, nhập mật khẩu và thoát tài khoản icloud nên anhThành tin tưởng là điện thoại của T và mua với giá 4.700.000 đồng. Số tiền có được, T tiêu xài cá nhân hết. Cùng ngày, anh T2 đến Công an phường C trình báo. Đến ngày 27/10/2023, Công an phường mời T về trụ sở làm việc, tại đây T khai nhận hành vi trộm cắp 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu đen của anh T2.
Theo Kết luận định giá ngày 30/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu đen 64GB, số Imei: 352845114161658 có giá trị 10.100.000 đồng.
* Vật chứng tạm giữ :
- Tạm giữ của anh Lê Quang T3 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu đen. Ngày 12/12/2023 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã trả lại điện thoại cho anh Huỳnh Trọng T2.
- Tạm giữ của Nguyễn Ngô Thành T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xám đen, biển kiểm soát 43D1-046. Qua xác minh, xe do anh Nguyễn Văn C là cha ruột của T đứng tên chủ sở hữu, ngày 25/10/2023 anh C cho T mượn xe để sử dụng đi lại, việc T sử dụng xe làm phương tiện đi trộm cắp tài sản thì anh C không biết. Ngày 13/12/2023 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã trả lại xe cho anh Nguyễn Văn C.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Anh Huỳnh Trọng T2 đã nhận lại điện thoại bị mất trộm, không có yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T.
- Anh Lê Quang T3 đã nhận lại số tiền 4.700.000đồng của gia đình Trung khắc phục hậu quả, không yêu cầu gì thêm.
Quá trình điều tra, Nguyễn Ngô Thành T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên
* Nguyên nhân, điều kiện phạm tội: Nguyễn Ngô Thành T trộm cắp điện thoại của anh Huỳnh Trọng T2 để bán lấy tiền tiêu xài.
Tại bản cáo trạng số 33/CT- VKS ngày 26 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Ngô Thành T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngô Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng:
- Khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngô Thành T từ 09 tháng đến 15 tháng tù.
Áp dụng Điều 56, 65 Bộ luật Hình sự: tổng hợp hình phạt theo quy định pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Ngô Thành T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã sai, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Ngô Thành T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 25 tháng 10 năm 2023, tại K V, phường C, quận T, Tp Đà Nẵng, Nguyễn Ngô Thành T đã có hành vi trộm cắp tài sản là 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu đen của anh Huỳnh Trọng T2. Qua định giá, tài sản có giá trị 10.100.000 đồng (Mười triệu, một trăm ngàn đồng).
Do đó hành vi của Nguyễn Ngô Thành T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy:
Hành vi của bị cáo có tính chất ít nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản để lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc điện thoại di động. Bị cáo có tiền án về tội trộm cắp tài sản, đang trong thời gian thử thách của án treo nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội, do đó cần buộc bị cáo chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án này.
Vậy, hình phạt đối với bị cáo phải thỏa đáng và tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo tu dưỡng để trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Ngô Thành T có tiền án chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, bị cáo đã khắc phục hậu quả số tiền 4.700.000 đồng cho anh Lê Quang T3, bị hại anh Huỳnh Trọng T2 đã nhận lại tài sản, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo.
Từ những phân tích trên, xét lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về tội danh, mức hình phạt là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Đối với ông Lê Quang T3 không biết điện thoại bị cáo đem đến bán là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Đà Nẵng không đề cập xử lý, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
[7] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngô Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngô Thành T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Áp dụng Điều 56, 65 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 09 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2023/HS-ST ngày 20/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng. Tổng hợp với hình phạt của bản án này, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam từ ngày 19/01/2024. -
Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Ngô Thành T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. - 5. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Ngọc Hưng |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 04/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
