|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST
Ngày 02-5-2024
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Quốc Văn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Phi Hùng
Ông Hồ Quốc Văn
– Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án của Toà án nhân
dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2024/TLST – HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kiều D, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Bị đơn: Anh Trần Hồ S, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, T, Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 3 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Kiều D trình bày:
Chị D và anh S có quan hệ là vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang vào ngày 08 tháng 2 năm 2011. Thời gian đầu sống chung với nhau tại ấp B, xã T rất hạnh phúc. Tuy nhiên thời gian càng về sau, chúng tôi thường bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cải nhau, chị D và anh S nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và không thể tiếp tục sống chung được nữa nên anh chị đã ly thân từ ngày 01/6/2018 đến nay. Cuối năm 2023 cả hai có thoả thuận sẽ yêu cầu Toà án nhân dân huyện Thới Bình giải quyết thuận tình ly hôn. Thế nhưng khi đến ngày nộp hồ sơ thì anh S tìm cách né tránh và đề nghị phải có giấy tờ của toà án mới anh mới chịu đi dẫn đến kéo dài thời gian cho đến. Chị D xét thấy mục đích hôn nhân của vợ chồng không thể đạt được và không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa nên chị D yêu cầu được ly hôn với anh Trần Hồ S.
Về con chung: Có hai con chung là Trần Chí V, sinh ngày 25/5/2011 và Trần Hoàng P, sinh ngày 05/01/2014. Hai cháu chị D đang nuôi dưỡng, các cháu đều có nguyện vọng sống chung với chị D nên chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung. Chị D yêu cầu anh Trần Hồ S phải cấp dưỡng cho hai con số tiền 4.500.000đ /tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận và không yêu cầu toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp cho anh Trần Hồ S nhưng anh không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc chị D yêu cầu ly hôn với anh S thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.
Anh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự này.
Về nội dung vụ án:
[1] Về hôn nhân: Chị D và anh S tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Quá trình chung sống do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải nhau, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, chị D và anh S đã ly thân với nhau từ năm 2018 đến nay, gia đình hai bên không có hàn gắn để anh chị đoàn tụ, chị D xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh S. Điều đó, cho thấy hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị D được ly hôn với anh S.
[2] Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con của chị D thấy rằng cháu V và P đang chung sống ổn định và có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với chị D. Anh S không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị D, giao các con chung cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng. Anh S có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Chị D yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con, đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân gia đình thì anh S không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, mức yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị D là cao nên Hội đồng xét xử điều chỉnh lại cho phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử buộc anh S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu V và P mỗi cháu mỗi tháng với số tiền là 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng), cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm (02/5/2024) cho đến khi các cháu V và P đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày chị D có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh S chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì phải chịu lãi theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
[3] Tài sản chung: Tự thỏa thuận, các đương sự không yêu cầu nên không xét.
Nợ chung: Không có
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị D phải chịu số tiền là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do chị D đã nộp tạm ứng án phí nên được đối trừ không phải nộp tiếp. Anh S phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
[1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Kiều D và anh Trần Hồ S được ly hôn.
[2] Về con chung: Giao các cháu Trần Chí V, sinh ngày 25/5/2011 và Trần Hoàng P, sinh ngày 05/01/2014 cho chị Nguyễn Kiều D tiếp tục nuôi dưỡng. Anh S có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Buộc anh Trần Hồ S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trần Chí V, sinh ngày 25/5/2011 mỗi tháng với số tiền là 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) và cấp dưỡng nuôi cháu Trần Hoàng P, sinh ngày 05/01/2014 mỗi tháng với số tiền là 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng), cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm (02/5/2024) cho đến khi cháu V và P đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày chị D có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh S chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì phải chịu lãi theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Kiều D phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 12/3/2024 chị D đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016047 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu án phí.
Anh Trần Hồ S phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, anh S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được nhận hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Quốc Văn |
Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: [1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Kiều Diễm và anh Trần Hồ Sang được ly hôn. [2] Về con chung: Giao các cháu Trần Chí Vĩ, sinh ngày 25/5/2011 và Trần Hoàng Phúc, sinh ngày 05/01/2014 cho chị Nguyễn Kiều Diễm tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Sang có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Buộc anh Trần Hồ Sang có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trần Chí Vĩ, sinh ngày 25/5/2011 mỗi tháng với số tiền là 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) và cấp dưỡng nuôi cháu Trần Hoàng Phúc, sinh ngày 05/01/2014 mỗi tháng với số tiền là 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng), cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm (02/5/2024) cho đến khi cháu Vĩ và Phúc đủ 18 tuổi. Kể từ ngày chị Diễm có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Sang chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì phải chịu lãi theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. [3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Kiều Diễm phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 12/3/2024 chị Diễm đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016047 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu án phí. Anh Trần Hồ Sang phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
