Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2025/HSST

Ngày: 16 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đức Thọ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Thanh

Ông Nguyễn Văn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Duy Toàn- Thư ký của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng:

Ông Nguyễn Việt Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử hình sự Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an thành phố Đ, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2025/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025 đối với:

Bị cáo Nguyễn Mậu N, sinh ngày 10/4/1990 tại Quảng Nam; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; chỗ ở hiện nay: Thôn X, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; trình độ văn hóa: 5/12; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mậu Q (chết) và bà Lê Thị C (sống); vợ Nguyễn Thị P và 03 con (lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2024); tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Ngày 21/7/2008, bị TAND quận Hải Châu, TP.Đà Nẵng xử phạt 09 (C1) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/12/2008 (tại Trại giam B);
  • + Ngày 23/6/2017, bị TAND quận Liên Chiểu, TP.Đà Nẵng xử phạt 03 (Ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án tại Trại giam B.
  • + Năm 2021, bị khởi tố về tội “Hiếp dâm”, ngày 18/11/2021, TAND quận Liên Chiểu ra Quyết định đình chỉ vụ án do bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố tại Tòa án.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  • + Anh Bùi Trung Đ, sinh năm 2004; nơi thường trú: Xã H, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; chỗ ở hiện nay: K đường C, tổ B, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
  • + Anh Trần Xuân V, sinh năm 2004; nơi thường trú: Xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. chỗ ở hiện nay: K đường C, tổ B, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Đình T, sinh năm 1990; trú tại: K đường Â, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có tiền để tiêu xài nên vào khoảng 02 giờ sáng ngày 23/11/2024, Nguyễn Mậu N đi bộ đến đường C, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng để tìm tài sản trộm cắp thì phát hiện dãy trọ tại địa chỉ K đường C có phòng không khóa cửa. N quan sát không thấy ai nên đã đột nhập vào phòng trọ số 02 của anh Bùi Trung Đ (sinh năm 2004, trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) và anh Trần Xuân V (sinh năm 2004, trú tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk). Khi đột nhập vào bên trong, N không thấy ai trong phòng nên lục lọi, tìm kiếm tài sản và trộm cắp 01 máy tính xách tay hiệu HP, 01 điện thoại di động Redmi Note 11, 01 điện thoại di động Oppo A1K rồi cất giấu trong áo và rời khỏi hiện trường. N mang tài sản trộm cắp về cất giấu tại công trình xây dựng trên địa bàn phường H, quận L. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, N mang tài sản đã trộm cắp đến địa chỉ số B đường Â, phường H, quận L bán cho anh Phạm Đình T (sinh năm 1990, trú tại Tổ F, phường H, quận L, là chủ cửa hàng thu mua điện thoại) được số tiền 1.100.000 đồng. Khi bán cho anh T, N nói những tài sản này là của N. N đã tiêu xài số tiền 50.000 đồng, còn 1.050.000 đồng đã bị Cơ quan Công an tạm giữ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 98/KL-HĐĐGTS ngày 05/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận:

  • + 01 máy vi tính xách tay màu xám bạc đã qua sử dụng có nhãn hiệu HP có giá trị định giá là 5.000.000 đồng;
  • + 01 điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Redmi Note 11 có giá trị định giá là 1.425.000 đồng;
  • + 01 điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu OPPO A1K có giá trị định giá là 330.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản Nguyễn Mậu N đã chiếm đoạt là 6.755.000 đồng.

Bản cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 19 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Nguyễn Mậu N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Mậu Nhân từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Ngoài ra, còn đề cập đường lối xử lý về vật chứng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của bị cáo, kính xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Mậu N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng mà Kiểm sát viên đã công bố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sơ khẳng định:

Vào rạng sáng ngày 23/11/2024, tại phòng trọ số 02, địa chỉ số K đường C, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Mậu N đã lén lút trộm cắp 01 máy tính xách tay hiệu HP, 01 điện thoại di động Redmi Note 11 của anh Bùi Trung Đ và 01 điện thoại di động Oppo A1K của anh Trần Xuân V, tổng trị giá tài sản mà N đã chiếm đoạt là 6.755.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Mậu N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Mậu N có nhân thân xấu, năm 2008 và năm 2017 bị TAND quận Hải Châu và TAND quận Liên Chiểu xử phạt tù giam về hành vi trộm cắp tài sản nên bị cáo nhận thức rõ được tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, không ai có quyền xâm phạm, mọi hành vi xâm phạm đều bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Nhận thức rõ được điều đó, nhưng do bị cáo lười lao động, để có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất an ninh tại địa phương. Vì vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo N cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung; đồng thời xét bị cáo N có nhân thân xấu nên cần thiết phải cách ly bị cáo N ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm để giáo dục, răn đe, cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

Song cũng xét, bị cáo Nguyễn Mậu N sau khi phạm tội đã ra đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Vì vậy, khi lượng hình cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ tương ứng được quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo N một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Việt Nam.

[4] Xét quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Mậu Nhân T1 12 tháng đến 18 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản là phù hợp với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Bùi Trung Đ, Trần Xuân V; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.

[6] Về xử lý tang vật:

  • - Đối với 01 máy tính xách tay hiệu HP, 01 điện thoại di động Redmi Note 11, Cơ quan CSĐT Công an quận L, thành phố Đà Nẵng đã trả cho chủ sở hữu là anh Bùi Trung Đ là đúng pháp luật.
  • - Đối với 01 điện thoại di động Oppo A1K, Cơ quan CSĐT Công an quận L, thành phố Đà Nẵng đã trả cho chủ sở hữu là anh Trần Xuân V là đúng pháp luật.
  • - Đối với số tiền 1.050.000 đồng, Cơ quan CSĐT Công an quận L, thành phố Đà Nẵng đã trả cho chủ sở hữu là anh Phạm Đình T là đúng pháp luật nên không xét.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mậu N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mậu N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mậu N 01(Một) năm 03 (Ba) tháng tù.
  3. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2024.

  4. Về án phí: Căn cứ các điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  5. Bị cáo Nguyễn Mậu N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 16 tháng 4 năm 2025. Đối với bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc trích sao bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Q. Liên Chiểu;
  • - Chi cục THADS Q. Liên Chiểu;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Q. Liên Chiểu;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Đức Thọ

Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp gây thiệt hại không lớn (tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 6.755.000 đồng) và sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Xét, bị cáo Nguyễn Mậu Nhân có 04 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Cụ thể, ngày 29/11/2001, bị Tòa án nhân dân huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 09/2001/HSST; ngày 05/02/2002, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 07/2002/HSST; ngày 08/3/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 09/2011/HSST và ngày 29/12/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 287/2011/HSPT. Do bị cáo Đứcchưa chấp hành xong phần án phí của các bản án trên nên chưa được xóa án tích, do đó lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Bản thân bị cáo không có nghề nghiệp, lấy việc trộm cắp tài sản của người khác làm nguồn sống chính. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Nguyễn Mậu Nhân về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “có tính chất chuyên nghiệp” và “ tái phạm nguy hiểm” quy định tại các điểm b, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trịnh Thị Thanh Hiền đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bị cáo bồi thường và có đơn bãi nại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo Đức nên không xét.

* Về xử lý tang vật:

Ngày 17/10/2023 và ngày 21/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 54, 57 trả lại cho bà Trịnh Thị Minh Hiền 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max 64Gb màu đen (đã qua sử dụng) và số tiền 750.000 đồng (01 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 50.000 đồng) là đúng pháp luật nên không xét.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2025/HSST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 57/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA bc NHÂN- số 57 ngày 16 tháng 4 năm 2025
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger