TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2025/HS-ST Ngày 27 - 06 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tú
Thẩm phán: Bà Trần Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lý Đình Đạt
- Ông Nguyễn Văn Thục
- Bà Nguyễn Thị Bích
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2025/TLST- HS ngày 01 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2025/QĐXXST- HS ngày 02/6/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 169/2025/HSST-QĐ ngày 19/6/2025 đối với bị cáo:
Ngô Thị Thanh T, sinh năm 1978; Tên gọi khác không; Giới tính: Nữ. Nơi cư trú: thôn S, xã S (nay là tổ dân phố S, phường S) thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do. Văn hóa: Lớp 12/12; Bố: Giang H (tên gọi khác Ngô Gia ), sinh năm 1933; Mẹ: Hồ Thị T1, sinh năm 1949; Chồng: Ninh Văn H1, sinh năm 1969; Con: Có 02 con lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2014; Gia đình có 06 anh em, bị cáo là thứ 05; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/3/2024; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Ngô Thị Thanh T: Ông Nguyễn Văn Q - Luật sư, Văn phòng L2 và Cộng sự, Đoàn Luật sư tỉnh B.
Địa chỉ: Số H, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Bị hại:
- Anh Phạm Đình T2, sinh năm 1985 (vắng mặt)
- Chị Dương Thị H2, sinh năm 1984 (vắng mặt)
- Anh Hoàng Văn M, sinh năm 1977 (có mặt)
- Anh Chu Văn T3, sinh năm 1980 (có mặt)
- Anh Hoàng Văn N, sinh năm 1987 (có mặt)
- Anh Hoàng Xuân H3, sinh năm 1982 (vắng mặt)
- Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1989 (vắng mặt)
- Anh Hoàng Văn T4, sinh năm 1984 (có mặt)
- Anh Dương Văn B, sinh năm 1975 (vắng mặt)
- Chị Lương Thị O, sinh năm 1986 (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị H4, sinh năm 1979 (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1973 (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị T5, sinh năm 1976 (vắng mặt)
- Ông Ngô Thế M1, sinh năm 1964 (vắng mặt)
- Anh Thân Văn T6, sinh năm 1988 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện L tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn S, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn R, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Tô Duy Y, sinh năm 1971(vắng mặt)
- Bà Lương Thị K, sinh năm 1951(vắng mặt)
- Chị Lê Thị V, sinh năm 1990 (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1972 (vắng mặt)
- Anh Ninh Văn Hiện, sinh năm 1969 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn G, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Khu K, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Địa chỉ: Thôn R, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà 19 Châu Xuyên, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang, Bắc Giang
Địa chỉ: Tổ dân phố S, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
Chị Thân Thị Minh H5, sinh năm 1981(vắng mặt)
Địa chỉ: thôn S, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngô Thị Thanh T, sinh năm 1978, trú tại Tổ dân phố S, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang làm việc tại Trạm y tế xã H và trạm y tế phường T, thị xã V từ 01/5/2002 đến tháng 02/2022 nghỉ việc. Trong thời gian còn công tác cho đến khi nghỉ công tác, T không có chức năng, nhiệm vụ để làm thủ tục chuyển mục đích quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều chỉnh biến động về đất..., nhưng T đã đưa ra thông tin gian dối nêu trên cho nhiều người để nhận tiền của các bị hại tổng số tiền 1.928.500.000 đồng sử dụng chi tiêu cá nhân hết, cụ thể như sau:
- Chiếm đoạt của anh Phạm Đình T2, sinh năm 1985 và vợ là chị Dương Thị H2, sinh năm 1984, trú tại thôn T, xã T (nay là Tổ dân phố T, phường T), thành phố B số tiền 310.000.000 đồng.
Khoảng tháng 11/2021, anh Tô Duy Y, sinh năm 1971, trú tại thôn G, xã T (nay là Tổ dân phố G, phường T), thành phố B, tỉnh Bắc Giang có thửa đất số 01, tờ bản đồ số 37 có diện tích 310,6 m², địa chỉ tại tổ dân phố G, phường T, thành phố B. Anh Y có nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất trồng lúa nước sang đất thổ cư.
Anh T2 quen biết với T có mối quan hệ quen biết với T và được T cho biết có nhiều mối quan hệ nên làm được thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, anh T2 đã đưa T đến nhà gặp vợ chồng anh Y để thỏa thuận làm giúp anh Y. Do không quen biết T nên khi thỏa thuận, vợ chồng anh Y thống nhất giao cho anh T2 đứng ra làm thủ tục chuyển đổi Thửa đất số 01, tờ bản đồ số 37 của vợ chồng anh Y, từ đất nông nghiệp sang đất ở, đồng thời tách ra thành hai lô. Làm xong, vợ chồng anh Y sẽ cho anh T2 một lô, chi phí làm thủ tục do anh T2 chi trả. Sau khi thống nhất như vậy, anh T2 đã trực tiếp nhờ T làm thủ tục chuyển đổi đối với thửa đất trên, từ đất nông nghiệp sang đất ở thì T đồng ý với chi phí 370.000.000 đồng.
Từ tháng 12/2021 đến ngày 18/8/2022, T nhiều lần lý do đưa tiền đặt cọc, ngoại giao, tiền đóng làm sổ...để vợ chồng anh T2 nhiều lần đưa tiền mặt và chuyển khoản cho T tổng số tiền là 310.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền và hồ sơ, giấy tờ liên quan của vợ chồng anh T2, T không làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng Thửa đất cho anh T2 mà sử dụng để chi tiêu cá nhân hết. Đến nay, T không làm thủ tục sang tên đất cho anh Trương N1 đã hứa hẹn.
Ngày 12/3/2024, anh T2 có đơn tố giác gửi Công an thành phố B. Ngày 15/3/2024, T đầu thú tại Công an thành phố B và giao nộp: 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo Reno 5 màu ghi xanh đã qua sử dụng; 01 điện thoại Iphone 13 promax màu xanh đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân mang tên Ngô Thị Thanh T; 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Forte, biển số 30E-113.13. Ngày 21/3/2024, chị H2 giao nộp 05 file ghi âm nói chuyện giữa anh T2, chị H2 và T nội dung liên quan đến việc T nhận tiền chuyển mục đích quyền sử dụng đất cho anh T2, chị H2.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Ninh Văn H1, sinh năm 1969 là chồng của T đã bồi thường cho anh T2 số tiền 10 triệu đồng, anh T2 yêu cầu T bồi thường nốt số tiền 300 triệu đồng.
- Chiếm đoạt của anh Hoàng Văn M, sinh năm 1977, trú tại thôn P, xã P (nay là Tổ dân phố P, thị trấn P), huyện L, tỉnh Bắc Giang và 04 em trai của anh M số tiền số tiền 652.000.000 đồng
Ngày 27/11/2023, anh M gặp T tại “buổi họp đồng niên 1978” tại huyện L, T giới thiệu với anh M làm địa chính - đất đai, anh M và T có cho nhau số điện thoại để liên lạc. Anh M có nhu cầu làm thủ tục thừa kế đối với diện tích 815 m² đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong Thửa đất số 11, tờ bản đổ số 24, địa chỉ tại thôn P, xã P (nay là Tổ dân phố P, thị trấn P), huyện L, tỉnh Bắc Giang, mang tên ông Hoàng Văn G (là bố anh M) sang tên anh M. Anh M đã đặt vấn đề nhờ T làm giúp thì T đồng ý và bảo anh M chuẩn bị 20.000.000 đồng và giấy tờ có liên quan mang xuống thành phố B đưa cho T làm thủ tục. Sau đó, anh M cùng em trai là anh Hoàng Văn N, sinh năm 1987, trú tại: Thôn P, xã P (nay là Tổ dân phố P, thị trấn P), huyện L, tỉnh Bắc Giang, cùng xuống thành phố B gặp T, chuyển khoản cho T số tiền 20.000.000 đồng và đưa cho T Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản gốc) của thửa đất kể trên, cùng giấy tờ có liên quan để T làm thủ tục sang tên giúp. Khi trao đổi, nói chuyện, anh M có nói với T về việc sau khi làm thủ tục sang tên xong, anh M muốn tách thửa đất đó thành 05 thửa để chuyển nhượng cho 04 em trai. Biết anh M có nhu cầu như vậy, T đã bảo anh M làm thủ tục luôn với chi phí 05 sổ là 100.000.000 đồng, anh M đồng ý.
Ngày 30/11/2023, T đến nhà anh M, hướng dẫn anh M làm thủ tục và yêu cầu anh M chuyển tiền để làm thủ tục tách, cấp 05 sổ mới, anh M tin tưởng nên đã chuyển khoản cho T số tiền 80.000.000 đồng. Khi đó, T thấy tại Thửa đất số 11, tờ bản đổ số 24 có 400 m² đất vườn nên có nói với anh M là chuyển đổi được sang đất thổ cư, nếu có nhu cầu thì làm luôn, chi phí hết 450.000.000 đồng thì anh M đồng ý. Ngày 01/12/2023, anh M cùng em trai là anh N mang 450.000.000 đồng đến đưa cho T ở thành phố B.
Đến đầu tháng 01/2024, T gọi điện cho anh M nói dối là đã làm được 05 phôi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 05 anh em trong gia đình anh M và yêu cầu anh M phải nộp thêm mỗi người 20.000.000 đồng để lấy sổ. Do tin tưởng T, từ ngày 05/01/2024 đến ngày 25/01/2024, anh M đã đưa cho T thêm 20.000.000 đồng và chuyển khoản cho T 10.000.000 đồng; anh N đưa cho T hai lần tổng là 15.000.000 đồng; anh Hoàng Văn T4, sinh năm 1984 (là em trai anh M) đưa cho T 15.000.000 đồng; anh Hoàng Văn L, sinh năm 1989 (là em trai anh M) đưa cho T 20.000.000 đồng; anh Hoàng Xuân H3, sinh năm 1982 (là em trai anh M) đưa cho T 20.000.000 đồng và chuyển khoản cho T số tiền 2.000.000 đồng. Tổng số tiền, 05 anh em anh M đã đưa cho T là 652.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, T không làm thủ tục sang tên, tách thửa, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng như hứa hẹn mà sử dụng tiền để chi tiêu cá nhân hết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khám xét khẩn cấp nơi ở của Ngô Thị Thanh T thu giữ: Biên bản họp gia đình ghi ngày 27/11/2023; 01 biên bản đề nghị ghi ngày 24/11/2023 và ngày 27/11/2023; Phiêu thu ghi ngày 01/9/2023; Thông báo nộp thuế; Quyết định về việc cấp đất trồng cây lâu năm sang đất thổ cư chưa điền thông tin.
Ngày 14/4/2024, anh S đã giao nộp 01 giấy uỷ quyền đề ngày 09/02/2024 và 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 860010 mang tên ông Hoàng Văn G.
Về trách nhiệm dân sự: Anh H1 đã trả cho anh M số tiền 20.000.000 đồng. Anh M, anh N, anh T4, anh L, anh H3 yêu cầu T tiếp tục bồi thường số tiền 632.000.000 đồng.
- Chiếm đoạt của anh Chu Văn T3, sinh năm 1980, trú tại thôn H, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang số tiền 56.000.000 đồng
Khoảng năm 2017, anh T3 chăm sóc người nhà tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B thì gặp quen biết với T. Ngày 26/01/2024, T đến nhà anh T3 chơi và ăn cơm cùng gia đình anh T3. Quá trình nói chuyện, T được biết anh T3 muốn làm thủ tục chuyển đổi đất vườn sang đất thổ cư đối với diện tích 300 m² trong Thửa đất số 8, tờ bản đồ số 14, có diện tích 1170,6 m², địa chỉ tại thôn H, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, T bảo anh T3 là bản thân có thể làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất được cho anh T3, với chi phí là 60.000.000 đồng và phải đưa trước số tiền 5.000.000 đồng để đăng ký làm hồ sơ, anh T3 tin tưởng nên đã đồng ý và chuyển khoản cho T số tiền 5.000.000 đồng. Sau đó, vào các ngày 29/01/2024, 17/02/2024, 26/02/2024 và ngày 08/3/2024, T đã chủ động gọi điện bảo anh T3 xuống Trung tâm hành chính công tỉnh B, nói dối là để làm thủ tục, ký hồ sơ, nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.... Khi anh T3 xuống Trung tâm hành chính công tỉnh Bắc Giang thì T nói dối anh T3 là phải nộp thêm tiền để chiếm đoạt của anh T3 số tiền lần lượt vào các ngày trên là 20.000.000 đồng, 11.500.000 đồng, 14.500.000 đồng và 5.000.000 đồng. Tổng số tiền T nhận của anh T3 là 56.000.000 đồng, T không làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất cho anh T3 mà sử dụng tiền để chi tiêu cá nhân hết.
Về trách nhiệm dân sự: Anh H1 đã trả cho anh T3 số tiền 3.000.000 đồng. Anh T3 yêu cầu T phải bồi thường tiếp số tiền 53.000.000 đồng.
- Chiếm đoạt của anh Dương Văn B, sinh năm 1975, trú tại thôn G, xã N, huyện Y (nay là Tổ dân phố G, phường N, thành phố B), tỉnh Bắc Giang số tiền 120.000.000 đồng.
Khoảng tháng 11/2023, anh B có nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất thổ cư và chuyển đổi chủ sở hữu thửa đất sang tên cho con trai anh B là Dương Thanh B1, sinh năm 2000 đối với Thửa đất số 93, tờ bản đồ số 20, diện tích 551,6m2, địa chỉ tại thôn G, xã N (nay là Tổ dân phố G, phường N). Do quen biết với T từ trước, qua trao đổi, thỏa thuận, T nói bản thân làm được thủ tục chuyển đổi cho anh B, chi phí hết 170.000.000 đồng. Tin tưởng T, anh B đã đưa cho T số tiền 120.000.000 đồng. Sau khi đưa tiền cùng giấy tờ có liên quan cho T, T hẹn sau 03 tháng sẽ hoàn thiện thủ tục, khi nhận sổ sẽ thanh toán số tiền còn lại. Sau đó, T không làm thủ tục cho anh B mà sử dụng tiền để chi tiêu cá nhân hết.
Về trách nhiệm dân sự: Anh H1 đã trả cho anh B số tiền 120.000.000 đồng. Đến nay, anh B không yêu cầu T phải bồi thường.
- Chiếm đoạt của chị Lương Thị O, sinh năm 1986, trú tại thôn Q, xã T, huyện Y (nay là Tổ dân phố Q, phường T, thành phố B), tỉnh Bắc Giang số tiền 20.000.000 đồng.
Do chị O có nhu cầu làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 321, tờ bản đồ số 65, diện tích 211,7m2 của gia đình, địa chỉ tại thôn Q, xã T, huyện Y (nay là Tổ dân phố Q, phường T, thành phố B), tỉnh Bắc Giang. Thông qua mối quan hệ quen biết, chị O có gặp T để nhờ làm thủ tục giúp, được T cho biết bản thân có thể làm được thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa trên cho gia đình chị O. Do tin tưởng T, khoảng tháng 10/2023, chị O đã đưa cho T giấy tờ, tài liệu có liên quan đến thửa đất và số tiền 20.000.000 đồng để làm thủ tục. Sau khi nhận tiền, T không làm thủ tục cho chị O mà sử dụng tiền để chi tiêu cá nhân hết.
Về trách nhiệm dân sự: Anh H1 đã trả cho chị O số tiền 5.000.000 đồng. Chị O yêu cầu T phải tiếp tục trả số tiền 15.000.000 đồng.
- Chiếm đoạt tiền của chị Nguyễn Thị H4, sinh năm 1979, trú tại thôn Y, xã Y, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang số tiền 40.000.000 đồng
Chị H4 quen biết với T và được T cho biết có nhiều mối quan hệ quen biết sẽ làm được thủ tục biến động về đất. Đồng thời, chị H4 biết bà Lương Thị K, sinh năm 1951, trú tại khu K, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, có nhu cầu làm thủ tục biến động tăng đất thổ cư đối với Thửa đất số 38, tờ bản đồ số 18, địa chỉ tại thôn A, xã Y, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang, chị H4 đã giới thiệu để bà K nhờ T làm thủ tục giúp.
Sau khi trao đổi, T nói có thể làm được thủ tục cho bà K, với chi phí hết 50.000.000 đồng, bà K đồng ý. Nhưng do không quen biết T, bà K đã đưa cho chị H4 số tiền 50.000.000 đồng để nhờ chị H4 đứng ra làm thủ tục giúp. Sau khi được bà K nhờ, do tin tưởng T nên ngày 04/9/2023, chị H4 đưa cho T số tiền 30.000.000 đồng, có viết giấy biên nhận nội dung vay tiền đề ngày 04/9/2023. Sau đó khoảng 02 tháng, chị H4 tiếp tục đưa cho T số tiền 20.000.000 đồng tại thành phố B nhưng không viết giấy tờ gì để lại. T khai nhận chỉ nhận của chị H4 tổng số tiền 40.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã yêu cầu chị H4 tham đối chất với T, tuy nhiên chị H4 từ chối tham gia đối chất và giữ nguyên lời khai của mình, ngoài lời khai của chị H4 và T ra không có tài liệu nào khác để chứng minh, nên xác định chị H4 đưa cho T số tiền 40.000.000 đồng như T đã khai.
Sau khi nhận tiền, T không làm thủ tục cho bà K mà sử dụng tiền để chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 15/01/2025, chị H4 giao nộp 01 tờ giấy viết tay đề ngày 04/9/2023 và 01 (một) đĩa DVD-R maxell, màu cam, bên trong đĩa DVD-R lưu trữ 01 (một) file video đã trích xuất được 18 hình ảnh video liên quan vụ án.
Kêt quả giám định chữ ký, chữ viết trên tài liệu do chị H4 giao nộp nêu trên có chữ ký, chữ viết của T.
Về trách nhiệm dân sự: Chị H4 đã hoàn trả bà K số tiền 50.000.000 đồng, bà K không yêu cầu bồi thường dân sự. Anh H1 đã trả cho chị H4 số tiền 5.000.000 đồng. Chị H4 yêu cầu T phải tiếp tục trả nốt số tiền 45.000.000 đồng.
- Chiếm đoạt của vợ chồng anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1973, trú tại thôn S, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang số tiền 20.000.000 đồng
Khoảng cuối năm 2023, vợ chồng anh L1 có nhu cầu làm thủ tục sang tên đối với Thửa đất số 244 và Thửa đất số 286, tờ bản đồ số 5 có tổng diện tích 1146 m², địa chỉ tại thôn S, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang từ bố anh L1 là ông Nguyễn Tất T7 sang tên anh L1. Thông qua mối quan hệ quen biết giới thiệu, anh L1 đã gặp T để nhờ làm thủ tục, được T cho biết có mối quan hệ quen biết nên làm được thủ tục sang tên cho anh L1, với chi phí hết 20.000.000 đồng. Tin tưởng T nên ngày 31/01/2024, anh L1 đã đưa cho T 10.000.000 đồng. Đến ngày 01/02/2024, tại nhà chị Trần Thị Minh H6, sinh năm 1981, trú tại thôn S, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, chị Nguyễn Thị T5, sinh năm 1976 (là vợ của anh L1) đưa thêm cho T số tiền 10.000.000 đồng để làm thủ tục, T đã viết giấy vay tiền đưa cho chị T5. Sau đó, T không làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh L1 mà sử dụng tiền để chi tiêu cá nhân hết.
Về trách nhiệm dân sự: Vợ chồng anh L1 yêu cầu T phải hoàn trả số tiền 20.000.000 đồng.
- Chiếm đoạt của anh Ngô Thế M1, sinh năm 1964, trú tại thôn Đ, xã H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang số tiền 25.000.000 đồng
Anh M1 có Thửa đất số 292, tờ bản đổ số 21, diện tích 670m2, địa chỉ tại thôn T, xã H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang do bố mẹ anh M1 để lại. Năm 2023, gia đình anh M1 có nhu cầu làm thủ tục tách, chia thửa đất trên thành 03 (ba) phần để chia cho anh M1 và hai em trai anh M1.
Đầu năm 2024, thông qua mối quan hệ quen biết giới thiệu, T có đến gặp gia đình anh M1 thỏa thuận để làm thủ tục giúp. Qua trao đổi, T cho biết làm được thủ tục giúp anh M1, với chi phí mỗi sổ hết 30.000.000 đồng. Tin tưởng T, anh M1 đã đưa cho T giấy tờ có liên quan và hai lần tiền, một lần là 15.000.000 đồng và một lần là 10.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, T không làm thủ tục giúp anh M1 mà sử dụng tiền để chi tiêu cá nhân hết.
Về trách nhiệm dân sự: Anh M1 yêu cầu T phải trả số tiền 25.000.000 đồng.
- Chiếm đoạt tiền của anh Thân Văn T6, sinh năm 1988, trú tại thôn R, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang số tiền 685.500.000 đồng
Ngày 24/01/2022, anh T6 có thuê Thửa đất số 20, tờ bản đồ số 39, diện tích 2876,5 m², địa chỉ tại thôn H, xã M, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang, mục đích để trồng cây lâu năm, thời hạn thuê đất là 05 năm. Sau khi thuê được đất, vợ chồng anh T6 tiếp tục chăm sóc cây ổi đã được trồng trước đó trên thửa đất. Đến tháng 02/2023, anh T6 nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với thửa đất trên, mục đích để thuê lâu dài và xây dựng công trình trên thửa đất để phát triển kinh tế.
Thông qua mối quan hệ quen biết, anh T6 có gặp, trao đổi nhờ T làm thủ tục giúp, được T cho biết bản thân làm được thủ tục chuyển mục đích sử dụng đối với Thửa đất số 20, tờ bản đồ số 39, chi phí hết 1.500.000.000 đồng, T cam đoan đến tháng 10/2023 sẽ hoàn thiện xong thủ tục. Tin tưởng T nên từ ngày 07/02/2023 đến ngày 09/8/2023, anh T6 đã nhiều lần chuyển khoản cho T với tổng số tiền 557.500.000 đồng và nhiều lần đưa tiền mặt cho T với tổng số tiền 886.000.000 đồng nhưng không viết giấy biên nhận. T khai đã nhận của anh T6 tổng số tiền là 685.500.000 đồng, trong đó số tiền chuyển khoản là 557.500.000 đồng và hai lần tiền mặt, một lần nhận số tiền 38.000.000 đồng và một lần nhận số tiền 90.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã yêu cầu anh T6 tham gia đối chất với T, tuy nhiên anh T6 từ chối tham gia đối chất và giữ nguyên lời khai của mình, ngoài lời khai của anh T6 và T ra không có tài liệu khác chứng minh. Sau khi nhận được tiền, T không làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho anh T6 mà sử dụng tiền để chi tiêu cá nhân hết.
Về trách nhiệm dân dự: Anh Tú yêu cầu T phải trả anh T6 số tiền số tiền 1.443.500.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra Ngô Thị Thanh T đã khai nhận hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại nêu trên, lời khai của bị can phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được.
Về vật chứng: Ngày 11/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B trả lại 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Forte biển số 30E-113.13 cho anh Nguyễn Văn S là chủ sở hữu. Ngày 06/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra quyết định trả lại vật chứng là giấy tờ (thu giữ khám xét tại nhà T) trả cho anh M.
Vật chứng còn lại vụ án: 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Ngô Thị Thanh T; 02 điện thoại di động thu giữ của T đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B bảo quản theo quy định.
Bản cáo trạng số 15/CT-VKS-P 2 ngày 27/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Ngô Thị Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Thị Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến gì về lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Thị Thanh T từ 12 năm tù đến 12 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự. Khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự.
Bị cáo Ngô Thị Thanh T phải bồi thường cho các bị hại là anh Phạm Đình T2 số tiền 300.000.000 đồng; anh Hoàng Văn M 632.000.000 đồng; anh Chu Văn T3 53.000.000 đồng; Chị Lương Thị O 15.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị H4 35.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn L1 20.000.000 đồng; anh Ngô Thế M1 25.000.000 đồng; anh Thân Văn T6 685.500.000 đồng.
Vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại bị cáo 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Ngô Thị Thanh T; tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno5 màu ghi xanh đã qua sử dụng để sung ngân sách nhà nước, trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh đã qua sử dụng nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
Án phí áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Ngô Thị Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 64.965.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
* Người bào chữa cho bị cáo Ngô Thị Thanh T là ông Nguyễn Văn Q - Luật sư, Văn phòng L2 và Cộng sự, Đoàn Luật sư tỉnh B. Tại phiên tòa nhất trí về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, đề nghị HĐXX xử phạt căn cứ Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 11 năm tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo.
Phần tranh luận: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát.
Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho những người tham gia tố tụng, tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa đều đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy đã có lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử, HĐXX căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án theo quy định.
[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và vật chứng thu giữ được có đủ cơ sở kết luận: Từ cuối năm 2021 đến đầu năm 2024, Ngô Thị Thanh T không có chức năng, nhiệm vụ và cũng không có khả năng làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều chỉnh biến động về đất... nhưng T đã đưa ra thông tin gian dối về việc bản thân có mối quan hệ quen biết sẽ làm được việc như trên để chiếm đoạt tiền của nhiều người bị hại. Với thủ đoạn nêu trên, trong khoảng thời gian từ 11/2021 đến ngày 24/01/2022 T đã chiếm đoạt của các bị hại với tổng số tiền 1.928.500.000 đồng (Một tỷ chín trăm hai mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng).
[4]. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5]. Xét tính chất của vụ án thì thấy: Hành vi của bị cáo Ngô Thị Thanh T thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật hình sự; bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng không nhận thức được việc làm của mình đã dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin sai sự thật, mục đích để chiếm đoạt tài sản là tiền của bị hại để chi tiêu cá nhân, xâm phạm vào quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất ổn định về trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy cần có mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để dụng giáo dục riêng đối với bị cáo, vừa có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung cho xã hội.
[6]. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[7]. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đầu thú trước cơ quan pháp luật, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục một phần hậu quả đã gây ra, gia đình thuộc diện có công với cách mạng bị cáo có bố đẻ là thương binh và được tặng thưởng H7, Huy chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[8]. Về hình phạt chính, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
[9]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự còn quy định về hình phạt bổ sung có thể là phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo có xác nhận của địa phương hoàn cảnh khó khăn, vợ chồng sống nhờ trên đất của bố mẹ không có công việc ổn định, hiện chưa bồi thường hết được cho bị hại, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T8.
[10]. Về phần trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị hại tiếp tục yêu cầu bị cáo còn phải bồi thường số tiền cho bị hại, cụ thể anh Phạm Đình T2 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 300.000.000 đồng; anh Hoàng Văn M 632.000.000 đồng; anh Chu Văn T3 53.000.000 đồng; Chị Lương Thị O 15.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn L1 20.000.000 đồng; anh Ngô Thế M1 25.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị H4 40.000.000 đồng; anh Thân Văn T6 685.500.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo nhất trí bồi thường số tiền trên cho bị hại, xét yêu cầu trên của bị hại và là có căn cứ cần được chấp nhận.
Đối với anh Thân Văn T6 trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa yêu cầu bị cáo T phải bồi số tiền 1.443.500.000 đồng và chị Nguyễn Thị H4 45.000.000 đồng. Xét thấy, quá trình điều tra có căn cứ xác định T chiếm đoạt của anh T6 số tiền 685.500.000 đồng, T chưa bồi thường cho anh T6 và T chiếm đoạt của chị H4 số tiền 40.000.000 đồng, đã bồi thường 5.000.000 đồng, nên cần buộc T bồi thường cho anh T6 số tiền 685.500.000 đồng và buộc T phải bồi thường cho chị H4 số tiền còn lại là 35.000.000 đồng.
Đối với số tiền anh T6 yêu cầu T bồi thường số tiền còn lại là 758.000.000 đồng (1.443.500.000 đồng - 685.500.000 đồng = 758.000.000 đồng) và chị H4 yêu cầu T bồi thường số tiền (50.000.000đồng – 40.000.00đồng =10.000.000 đồng) là chưa đủ căn cứ chấp nhận. Trường hợp các bên có tranh chấp, cung cấp tài liệu chứng minh, thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.
[11]. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Ninh Văn H1 đã trả một phần tiền bồi thường cho bị hại, nay anh H1 không có yêu cầu gì về số tiền đã trả, do vậy không đặt ra giải quyết.
[12]. Về xử lý vật chứng: Ngày 11/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B trả lại 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Forte biển số 30E-113.13 cho anh Nguyễn Văn S là chủ sở hữu. Ngày 06/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra quyết định trả lại vật chứng là giấy tờ (thu giữ khám xét tại nhà T) trả cho anh M, do vậy không đặt ra giải quyết.
Vật chứng còn lại vụ án: 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Ngô Thị Thanh T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh đã qua sử dụng bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh để đảm bảo thi hành án; tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno5 màu ghi xanh đã qua sử dụng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội để sung ngân sách nhà nước.
[13]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
[14]. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự. Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Ngô Thị Thanh T 12 (Mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Ngô Thị Thanh T phải bồi thường số tiền cho các bị hại là anh Phạm Đình T2 300.000.000 đồng; anh Hoàng Văn M 632.000.000 đồng; anh Chu Văn T3 53.000.000 đồng; Chị Lương Thị O 15.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị H4 35.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn L1 20.000.000 đồng; anh Ngô Thế M1 25.000.000 đồng; anh Thân Văn T6 685.500.000 đồng.
- Vật chứng của vụ án: Trả lại bị cáo 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Ngô Thị Thanh T; tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno5 màu ghi xanh đã qua sử dụng để sung ngân sách nhà nước, trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh đã qua sử dụng nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo Ngô Thị Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 64.965.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tú |
Bản án số 57/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)
- Số bản án: 57/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
