|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 57/2025/HS-ST Ngày: 26/6/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Phương Hạnh
Ông Lê Văn Công
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Như Điểm – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2025/TLST - HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:
1. Đặng Ngọc N;
tên gọi khác: Không, sinh năm 1978 tại tỉnh Đồng Nai; HKTT: Tổ B, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: Không có nơi ở ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T, sinh năm: 1952 (đã chết) và bà Cổ Kim P, sinh năm 1960 (đã chết); bị cáo có chồng (đã ly hôn) và có 2 con, sinh năm 1997 và năm 2007; Tiền sự: Không; Tiền án 01:
- Tại Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 30/01/2024 Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 13/01/2025, chấp hành xong hình phạt tù.
Nhân thân:
- Tại Bản án số 74/HS ngày 08/3/1995 Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”.
- Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 79 ngày 11/4/2000 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”.
- Tại Bản án số 68/2007/HSPT ngày 05/3/2007 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tại Bản án số 276/2012/HSST ngày 29/10/2012 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chưa chấp hành 01 năm 09 tháng 26 ngày của Bản án 68/2007/HSPT ngày 05/3/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai là 05 năm 03 tháng 26 ngày.
- Tại Bản án số 69/2020/HSST ngày 27/5/2020 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 02/3/2025, đến ngày 08/3/2025 chuyển tạm giam. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố B. (Có mặt)
2. La Thị Ngọc H;
tên gọi khác: Không, sinh năm 1990 tại tỉnh Đồng Nai; HKTT: Ấp B, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở: Tổ A, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông La Kiếm H1 (đã chết) và bà Đào Thị Ngọc L, sinh năm 1968; bị cáo chung sống với Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1996 (Không đăng ký kết hôn), bị cáo 03 con (Sinh năm 2019, năm 2020 và ngày 13/4/2025); Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo tại ngoại (Có mặt)
3. Đặng Hoàng A;
tên gọi khác: Không, sinh năm 1986 tại tỉnh Đồng Nai; HKTT: Số A, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: L, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T, sinh năm: 1952 (đã chết) và bà Cổ Kim P, sinh năm 1960 (đã chết); bị cáo có vợ tên Huỳnh Lâm Thanh L1, sinh năm 1985 và 01 con, sinh năm 2012; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo tại ngoại (Có mặt)
4. Bị hại:
- Chị Phan Thị Cẩm T1, sinh năm 2003, HKTT: ấp Q, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
- Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1990, HKTT: CHPb0414, chung cư P, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Chị Lê Thị H2, sinh năm 1989, HKTT: SỐ A Â, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
(Chị T1, chị T2, chị H2 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 01/3/2025, Đặng Ngọc N cùng đối tượng tên S (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến khu vực bờ kè, phía sau chợ B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để uống nước thì thêm gặp La Thị Ngọc H. Sau đó, N gọi điện thoại rủ Đặng Hoàng A (là em ruột N) đến cùng. Tại đây, N rủ H ngày 02/3/2025 đi đến tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để trộm cắp tài sản. Do H đang mang thai nên N rủ Hoàng A đi cùng để chở H. Lúc đầu, H và Hoàng A từ chối nhưng sau đó thì đồng ý do N hứa cho H tiền để mua sữa cho con, còn Hoàng A thì nể nang N là chị ruột. Sau khi H, Hoàng A ra về, N rủ thêm S cùng tham gia.
Đến khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 02/3/2025, S điều khiển xe mô tô hiệu HONDA Wave RSX biển số 60F1-191.56 chở N còn Hoàng A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX biển số 60F3-180.10 chở H. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, cả nhóm đi đến khu vực đường đi ra H (thuộc phường B, TP .). Đến nơi, N nói H cùng đi vào che chắn để N trộm cắp tài sản còn Hoàng A và S ngồi trên xe chờ. Khi vào, N thấy chị Phan Thị Cẩm T1 đang đi ngược từ dưới biển lên có đeo một chiếc giỏ xách đang mở nắp, N thò tay vào giỏ và lấy được 01 điện thoại di động Iphone 14 Plus có ốp màu hồng rồi cả hai bỏ đi đến chỗ S và Hoàng A rồi bỏ đi.
Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, cả nhóm đến khu B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (tại số D T, phường A, TP.), N nói H cùng đi vào khu Bảo tàng, còn Hoàng A và S ở ngoài chờ. Khi phát hiện chị Nguyễn Thị T2 có đeo balo nhỏ sau lưng, ẵm con phía trước ngực, đang xếp hàng vào quầy mua vé, cùng lúc này N thấy S cũng đi vào. H, S giả xô đẩy che tầm nhìn của chị T2 để N đã dùng tay phải kéo khóa balo rồi thò tay vào trong lấy được 01 điện thoại di động iPhone 11 có ốp màu xanh đen. Sau đó N ra hiệu cho S và H rời đi. N, H lên xe cùng S, Hoàng A đi về hướng thành phố B.
Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi cả nhóm đến TP., khu vực siêu thị C (thuộc phường P, TP.) thì N rủ H vào siêu thị. Sau đó, N, H đi vào quầy gà rán KFC tìm tài sản để trộm cắp thì thấy chị Lê Thị H2 đang ngồi ăn cùng chồng, trong xe đẩy hàng đằng sau ghế của chị H2 có một chiếc túi xách màu trắng kem, N và H đã ngồi vào một bàn gần đó và quan sát, một lúc sau S cũng đi vào quầy KFC và ngồi vào một bàn khác. N và H chuyển đến bàn kế bên túi xách lén lút lấy trộm túi xách trên rồi cất vào trong áo khoác màu đen của N. Sau đó cả hai rời đi bằng cửa sau của quầy còn S rời đi bằng cửa trước. Khi ra khỏi siêu thị thì N lấy lại túi từ H rồi lên xe Hoàng A còn H lên xe Sang rời đi. Khi đến chợ B1 thì chuyển xe, N đi xe S còn H đi xe Hoàng A di chuyển về theo hướng về TP .. Trên đường đi, N đã kiểm đếm tài sản bên trong túi xách, khi đến một quán cà phê võng dọc đường Q thuộc phường K, TP. thì N đã vứt bỏ dọc đường các giấy tờ cá nhân trong túi xách. Khi cả nhóm vào quán cà phê uống nước thì bị phát hiện, bắt giữ cùng tang vật chứng; riêng đối tượng S lợi dụng sơ hở đã tẩu thoát.
Tại Cơ quan điều tra, N khai nhận tài sản có bên trong túi xách trộm của chị Lê Thị H2 tại Bà Rịa có: 01 ví màu hồng, số tiền 2.900.000 đồng, 01 cục sạc dự phòng, 01 chùm chìa khóa ô tô có gắn định vị, một số mỹ phẩm đã sử dụng và một số giấy tờ tùy thân. Các bị cáo còn lại thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện.
Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 06/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: Vụ trộm tài sản của chị Lê Thị H2 tại Bà Rịa, có tổng giá trị thiệt hại là 6.810.133 đồng (Sáu triệu tám trăm mười nghìn một trăm ba mươi ba đồng), trong đó: 01 chìa khóa điện tử xe ô tô nhãn trị giá 3.744.800 đồng; 01 thiết bị định vị nhãn hiệu APPLE Airtag, trị giá 746.333 đồng; 01 pin dự phòng trị giá 1.080.000 đồng; 01 túi xách da màu trắng kem trị giá 765.333 đồng; 01 ví da màu hồng trị giá 473.667 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTS ngày 28/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: Vụ trộm tài sản của chị Nguyễn Thị T2 gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE kiểu dáng iPhone 11, trị giá 6.997.000 đồng (Sáu triệu chín trăm chín mươi bảy nghìn đồng).
Tại Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 28/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: Vụ trộm tài sản của chị Phan Thị Cẩm T1 gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE kiểu dáng iPhone 14 Plus trị giá 14.897.000 đồng (Mười bốn triệu tám trăm chín mươi bảy nghìn đồng).
Tại Kết luận giám định số 129/KL-KTHS-SKSM ngày 08/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Xe mô tô biển số 60F1-019.56 và xe mô tô biển số 60F3-180.10 có số khung, số máy hiện tại là nguyên thủy.
* Việc thu giữ và xử lý vật chứng:
Thu giữ của Đặng Ngọc N: Toàn bộ các tài sản trộm cắp của chị Lê Thị H2 tại Bà Rịa gồm: 01 chìa khóa xe ô tô; 01 thiết bị định vị; 01 (một) pin dự phòng; 01 túi xách da màu trắng kem; 01 (một) ví da màu hồng. 01 điện thoại di động iPhone 14 Plus; 01 điện thoại di động iPhone 11. Tiền mặt: 3.109.000 đồng (gồm tiền trộm ở siêu thị là 2.900.000 đồng và tiền cá nhân của N). 01 balo màu xanh đen. 01 túi xách màu đen.
Đối với 01 xe mô tô biển số 60F1-019.56. Qua xác minh xe mô tô trên do ông Nguyễn Thang Q, sinh năm 1990, HKTT: khu phố B, phường Q (nay là phường T), thành phố B, tỉnh Đồng Nai đứng tên. Ông Q khai: Tháng 03/2024 đã bán xe cho Trần Trung D, sinh năm 1972, HKTT: K11/77, tổ E, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giá 6.000.000 đồng, khi mua bán có làm giấy tờ mua bán tay nhưng đã bị thất lạc. Ông D xác định có mua chiếc xe trên nhưng đã bán lại cho người khác và không có yêu cầu gì.
Việc trả lại tài sản: Ngày 07/5/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Lê Thị H2 toàn bộ tài sản bị mất. Trả lại cho chị Phan Thị Cẩm T1 01 điện thoại di động iPhone 14 Plus. Trả lại cho chị Nguyễn Thị T2 01 điện thoại di động iPhone 11.
Thu giữ của La Thị Ngọc H: 01 xe mô tô biển số 60F3-180.10. Qua xác minh, ông Trương Anh D1, sinh năm 1999, HKTT: 115B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ sở hữu. Ông D1 xác định có cho H mượn xe nhưng không biết việc H sử dụng xe đi trộm cắp tài sản nên ngày 29/5/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông D1.
Số vật chứng còn lại gồm: 01 balo màu xanh đen; 01 túi xách màu đen; 01 xe mô tô biển số 60F1-019.56 và số tiền 3.109.000 đồng. Hiện đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa để bảo quản, chờ xử lý.
* Về phần trách nhiệm dân sự:
Chị Phan Thị Cẩm T1, Nguyễn Thị T2 đã nhận lại các tài sản nên không yêu cầu gì thêm. Chị Lê Thị H2 yêu cầu trả lại số tiền 2.900.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKSTPBR ngày 12/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố Đặng Ngọc N, La Thị Ngọc H và Đặng Hoàng A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Đặng Ngọc N, La Thị Ngọc H và Đặng Hoàng A và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Ngọc N từ 18 đến 24 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo La Thị Ngọc H từ 09 đến 15 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Hoàng A từ 06 đến 12 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 balo màu xanh đen; 01 túi xách màu đen; Giao lại chiếc xe mô tô biển số 60F1-019.56 cho Cơ quan điều tra xác minh làm rõ và xử lý sau.
Đối với số tiền đã thu giữ: Trả lại cho chị Lê Thị H2 số tiền 2.900.000 đồng; trả lại bị cáo N số tiền 209.000 đồng.
Ý kiến của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về quan điểm luận tội của Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo H hiện đang nuôi con còn nhỏ; bị cáo Đặng Hoàng A là lao động chính trong gia đình xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận:
Do cần tiền tiêu xài nên Đặng Ngọc N là người đề xuất và rủ La Thị Ngọc H, Đặng Hoàng A và đối tượng tên S (chưa rõ lai lịch) đi trộm cắp tài sản và đã 03 lần thực hiện hành vi như sau:.
Vào khoảng 9 giờ ngày 02/3/2025, tại khu vực H (thuộc phường B, TP.), N, H, Hoàng A và S có hành vi hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu iphone 14 Plus trị giá 14.897.000 đồng của chị Phan Thị Cẩm T1.
Vào khoảng 10 giờ cùng ngày, tại Bảo tàng tỉnh B (thuộc phường A, TP.), N, H, Hoàng A và S có hành vi hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động Iphone 11 trị giá 6.997.000 đồng của chị Nguyễn Thị T2.
Vào khoảng 11 giờ cùng ngày, tại khu vực trong Siêu thị C1 (thuộc phường P, TP.) N, H, Hoàng A và S có hành vi hành vi lén lút trộm cắp các tài sản đựng trong 01 túi xách màu trắng kem của chị Lê Thị H2, bên trong có: 01 chìa khóa điện tử xe ô tô; 01 thiết bị định vị; 01 pin dự phòng; 01 ví da màu hồng và tiền mặt là 2.900.000 đồng. Tổng cộng 9.710.133 đồng.
Trong vụ án này, có sự tham gia của đối tượng tên S, tuy nhiên sau khi cùng thực hiện hành vi thì bỏ trốn, hiện chưa xác minh làm rõ được. Đối với các bị cáo còn lại gồm Đặng Ngọc N, La Thị Ngọc H, Đặng Hoàng A hành vi đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
[3]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ; làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý bất bình trong nhân dân. Để có tiền tiêu xài các bị cáo đã cùng nhau di chuyển trên nhiều địa bàn để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Hành vi đó cần phải có mức hình phạt đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo và để đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Trong vụ án này các bị cáo cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn. Để có cơ sở quyết định hình phạt, cần làm rõ vai trò tham gia của từng bị cáo: Bị cáo N là người có tiền án về tội chiếm đoạt tài sản, bị cáo có nhân thân xấu nhiều lần bị xét xử về tội danh này, đã được giáo dục cải tạo nhưng khi có điều kiện là phạm tội mới, trong các lần phạm tội này thì bị cáo N là người đề xuất rủ rê các bị cáo khác đi trộm, trong đó có cả em trai ruột của bị cáo; bị cáo là người trực tiếp lấy tài sản và cất giữ. Đối với bị cáo H khi được N rủ rê thì tích cực tham gia và cũng trực tiếp cùng N 03 lần lấy tài sản. Đối với bị cáo Hoàng A khi được N là chị ruột của mình rủ rê tham gia thì không ngăn cản mà lại đồng tình tham gia với vai trò giúp sức, chạy xe mô tô chở bị cáo khác đi tìm tài và lấy tài sản. Như vậy, bị cáo N phải chịu trách nhiệm chính, tiếp đến bị cáo H và đến bị cáo Hoàng A.
[5] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, hình phạt:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều thực hiện hành vi “Phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52. Riêng bị cáo N bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã gây ra; các tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi và trao trả lại cho các bị hại, tài sản là tiền của chị H2 cũng được thu hồi là chưa gây thiệt hại. Trong đó bị cáo H khi phạm tội đang có thai và hiện đang nuôi con nhỏ. Vì vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 đối với các bị cáo; áp dụng thêm điểm n khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo H.
Trong vụ án này bị cáo Hoàng A là em ruột của N, bị rủ rê lôi kéo, bản thân bị cáo là tài xế có công việc làm và thu nhập ổn định, bị cáo là lao động chính trong gia đình, có nơi cư trú ổn định được địa phương xác nhận; vợ bị cáo Huỳnh Lâm Thanh L1 có đơn xin xem xét về hình phạt để mong bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, vì vậy cần áp dụng khoản 2 Điều 51; áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự không cần cách ly mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa chung.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Riêng số tiền 2.900.000 đồng đã thu hồi, cần giao trả lại cho chị Lê Thị H2.
[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản bị chiếm đoạt cho các chủ sở hữu nên đã giải quyết xong.
- Số tiền 209.000 đồng đã thu giữ là tài sản riêng cần trả lại cho bị cáo N.
- Tịch thu tiêu hủy 01 balo màu xanh đen; 01 túi xách màu đen không còn giá trị sử dụng; Tịch thu sung công 01 xe mô tô biển số 60F1-019.56.
[8] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên S (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đi cùng N, H, Hoàng A trộm cắp tài sản, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra và xử lý sau.
[9] Bị cáo phải nộp án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Đặng Ngọc N, La Thị Ngọc H, Đặng Hoàng A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1.1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/3/2025.
1.2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo La Thị Ngọc H 10 (Mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
1.3. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng A 12 (Mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nhận được Bản án và Quyết định thi hành án đối với bị cáo Đặng Hoàng A.
Giao bị cáo Đặng Hoàng A cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để giám sát, giáo dục trong thời gian Cải tạo không giam giữ.
2. Về trách nhiệm dân sự:
- Hoàn trả lại cho bà Bà Lê Thị H2 2.900.000 đồng (Hai triệu chín trăm nghìn đồng).
Số tiền này hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa theo Quyết định chuyển vật chứng số 44/QĐ-VKSBR ngày 12/6/2025.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự:
- Trả lại cho bị cáo Đặng Ngọc N 209.000 đồng (Hai trăm linh chín nghìn đồng).
Số tiền này hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa theo Quyết định chuyển vật chứng số 44/QĐ-VKSBR ngày 12/6/2025.
- Tịch thu tiêu hủy: 01(một) ba lô màu xanh đen cao 41cm, rộng 30cm. 01 (một) túi xách màu đen có quai màu đen dài 27cm, rộng 17cm.
- Tịch thu sung công: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, biển số 60F1-019.56, màu đỏ đen, số khung RLHJC523XCY537416, số máy JC52E5382963.
(Vật chứng nêu trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 68 ngày 12/6/2025)
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Buộc các bị cáo Đặng Ngọc N, La Thị Ngọc H, Đặng Hoàng A mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm (Người vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) |
|
|
Nơi nhận:
|
Lê Hoàng Anh |
Bản án số 57/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 57/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Ngọc N, La Thị Ngọc H, Đặng Hoàng A phạm tội trộm cắp tài sản
