|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 57/2025/HS-ST Ngày: 25/6/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tô Đông Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Tịnh
- Bà Nguyễn Thị Kim Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh Xuân – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thiện - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại Phòng xử A trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/205/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 205 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 205 đối với các bị cáo:
1/ Trần Minh D; giới tính: Nam; sinh năm 1971, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 3 Đ, Phường G (trước đây là Phường F), Quận A, Thành Phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông: (không rõ lai lịch) và bà Trần Thị G; hoàn cảnh gia đình: có vợ (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2003; tiền sự: không;
Tiền án: Ngày 16/9/2022, bị Tòa án nhân dân Quận 11 xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 66/2022/HS-ST). Bị cáo chấp hành án đến ngày 25/05/2024. Chưa được xóa án tích;
Nhân thân:
- Ngày 21/02/1990, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 30 tháng tù về tội “Cướp tài sản của công dân” (Bản án số 50/HSPT). Bị cáo đã được đương nhiên xóa án tích.
- Ngày 16/6/1994, bị Tòa án nhân dân Quận 5 xử phạt 36 tháng tù tội “Cưỡng đoạt tài sản của công dân” (Bản án số 131/HSST). Trần Minh D kháng cáo. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm (Bản án 301/HSPT ngày 29/9/1994). Bị cáo chấp hành án đến ngày 23/12/1996. Bị cáo đã được đương nhiên xóa án tích.
- Ngày 26/8/1998, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (Bản án số 1727/HSST). Bị hại kháng cáo phần xử lý vật chứng. Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm (Bản án số 25/HSPT ngày 15/01/1999). Bị cáo chấp hành án đến ngày 01/9/2001. Bị cáo đã được xóa án tích.
- Ngày 22/9/2003, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 1740/HSST). Chấp hành án đến ngày 04/10/2007 được về. Bị cáo đã được xóa án tích.
- Ngày 04/3/2011, bị Tòa án nhân dân Quận 5 xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 25/HSST). Chấp hành án đến ngày 09/9/2016. Bị cáo đã được xóa án tích.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2024; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Lư Chí T; giới tính: Nam; sinh năm 1979, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 1 đường C, Phường H (trước đây là Phường A), Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số H đường số A, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; con ông: Lư Đức và bà Lâm Tú K; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền sự: không có;
Tiền án: Ngày 12/5/2023, bị Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 69/2023/HSST), bị cáo chấp hành án đến ngày 10/5/2024. Bị cáo chưa được xóa án tích;
Nhân thân:
- Ngày 14/6/2013, bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 124/HSST), bị cáo chấp hành án đến ngày 30/9/2015. Bị cáo đã được xóa án tích.
- Ngày 04/7/2018, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng tại cơ sở cai nghiện ma túy số 2 (Quyết định số 328/2017/QĐ-TA); đến ngày 19/10/2019 chấp hành xong.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2024; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 25/11/2024, tại trước số A L, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an Q phối hợp Công an P, Quận A phát hiện Lư Chí T điều khiển xe mô tô hai bánh kiểu dáng Wave, biển số 92N5-1039 chở Trần Minh D có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trên tay Trần Minh D có 01 gói nylon là ma túy, khi Công an tiến hành áp sát thì D ném gói ma túy xuống đất. Tổ tuần tra đã tiến hành đưa D và T cùng vật chứng về trụ sở Công an P, Quận A tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy: Trần Minh D và Lư Chí T dương tính với ma túy.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiến hành trưng cầu giám định số lượng ma túy thu giữ của Trần Minh D và Lư Chí T.
Tại bản kết luận giám định số: 14125/KL-KTHS, ngày 03 tháng 12 năm 2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H xác định: 01 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Trần Minh D, Lư Chí T và hình dấu Công an P, Quận A, bên trong có: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu (m) cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1171 gam, loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra Trần Minh D và Lư Chí T khai nhận hành vi phạm tội: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 25/11/2024, Lư Chí T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave biển số: 92N5-1039 chở Trần Minh D qua Quận H để mua ma túy loại Heroin để sử dụng (T bỏ ra 110.000 đồng còn D hùn 90.000 đồng). Khi đến Quận H để mua ma túy, T là người đưa tiền cho 01 người thanh niên (chưa rõ lai lịch) để mua gói ma túy và sau đó đưa cho D cất giữ. Trên đường đi về đến tại trước số A L Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì Công an kiểm tra bắt quả tang như nêu trên. T và D xác nhận gói ma túy trên là cùng nhau hùn tiền để mua về sử dụng. Nếu không bị ai phát hiện sẽ chia một nửa mỗi người và tự sử dụng riêng tại nhà vệ sinh công cộng. Trước đó, T và D đã hùn tiền mua ma túy, D hùn 50.000 đồng, T hùn 150.000 đồng. Sau đó, chia ra tự sử dụng hết, không sử dụng chung.
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói niêm phong có chữ ký Giám định viên, Điều tra viên ghi vụ số 4477/24, chứa số ma túy còn lại sau giám định;
- 01 xe mô tô 02 bánh kiểu dáng Honda Wave, màu xanh, biển số 92N5-1039. Qua xác minh chủ sở hữu là Phan Phước M tại thôn B, Bình Dương, T, Quảng Nam nhưng hiện tại ông M đã đi khỏi địa phương, đi đâu không rõ. Tại Cơ quan điều tra Lư Chí T khai nhận mua của 01 người đàn ông (không rõ lai lịch vào năm 2021) với giá 3.000.000 đồng nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả;
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, đã qua sử dụng. Đây là tài sản cá nhân của T;
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh, đã qua sử dụng, bị bể màn hình. Đây là tài sản cá nhân của D;
Tại Bản cáo trạng số 58/CT-VKSQ11 ngày 19 tháng 5 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố các bị cáo Trần Minh D và Lư Chí T tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, giữ quan điểm như truy tố, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Trần Minh D mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Lư Chí T mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đồng thời đề nghị hướng xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong sau giám định số vụ 4477/24 có chữ ký của Lư Chí T và hình dấu tròn của Công an P, Quận A chứa số ma túy còn lại sau giám định;
- + Trả lại cho Lư Chí T 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, đã qua sử dụng.
- + Trả lại cho Trần Minh D 01 điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh, đã qua sử dụng, bị bể màn hình.
- + Đề nghị tiếp tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với 01 xe mô tô 02 bánh kiểu dáng Honda Wave, biển số 92N5-1039 theo quy định, nếu quá thời hạn mà không có người đến nhận thì tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- + Đề nghị miễn phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án:
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Trần Minh D và Lư Chí T đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an Q, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, biên bản bắt người phạm tội quả tang và tang vật thu giữ phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng của Bộ luật hình sự quy định, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của các bị cáo Trần Minh D và Lư Chí T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản lý của nhà nước về các chất ma túy, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội. Các bị cáo do lười lao động thích được hưởng thụ nên đã sớm đi vào con đường nghiện ngập. Mặt khác ma túy còn làm người sử dụng tự hủy hoại bản thân mà còn ảnh hưởng đến kinh tế gia đình làm cho xã hội phải gánh chịu hậu quả to lớn do ma túy để lại, góp phần làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm lây lan những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với người nghiện ma túy.
Mặc dù các bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, vận chuyển, sử dụng và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng các bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với các bị cáo và cần thiết phải có một khoảng thời gian cách ly các bị cáo khỏi xã hội nhằm tạo điều kiện cho các bị cáo học tập, cải tạo phấn đấu trở thành người tốt hơn, từ bỏ con đường nghiện ngập, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Các bị cáo Trần Minh D và Lư Chí T tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân với tổng khối lượng là 0,1171gram, loại Heroin. Các bị cáo Trần Minh D và Lư Chí Thành M1 đều có 01 tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội lần phạm tội này của các bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, ngoài ra các bị cáo có đều có nhân thân xấu và là đối tượng nghiện ma túy. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo theo tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có cơ sở và đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét các tình tiết, tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của các bị cáo nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, miễn phạt bổ sung.
[6] Về xử lý vật chứng:
- + Đối với 01 gói niêm phong sau giám định số vụ 4477/24 có chữ ký của Lư Chí T và hình dấu tròn của Công an P, Quận A chứa số ma túy còn lại sau giám định: Do là vật Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.
- + Trả lại cho Lư Chí T 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, đã qua sử dụng.
- + Trả lại cho Trần Minh D 01 điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh, đã qua sử dụng, bị bể màn hình.
- + Đối với 01 xe mô tô 02 bánh kiểu dáng Honda Wave, biển số 92N5-1039: Hội đồng xét xử giao Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 11 thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 năm để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận; nếu quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận, thì sung ngân sách Nhà nước.
[7] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lư Chí T (không rõ lai lịch): Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại tại khu vực đường N, Phường A, Quận H nhưng chưa phát hiện người đàn ông như T mô tả. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục truy xét, khi nào có thông tin sẽ tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trần Minh D và Lư Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt:
Trần Minh D 03 (ba) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2024.
Căn cứ vào Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt:
Lư Chí T 03 (ba) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2024.
Căn cứ vào điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- + Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong sau giám định số vụ 4477/24 có chữ ký của Lư Chí T và hình dấu tròn của Công an P, Quận A, chứa số ma túy còn lại sau giám định.
- + Trả lại cho Lư Chí T 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, đã qua sử dụng.
- + Trả lại cho Trần Minh D 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh, đã qua sử dụng.
- + Giao Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 11 thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 (một) năm đối với 01 xe mô tô 02 bánh kiểu dáng Wave, biển số 92N5-1039 để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận; nếu quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận, thì sung ngân sách Nhà nước.
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 237/LNK- ĐTTH ngày 12/02/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Bùi Tô Đông Đức |
|
Nơi nhận:
- - TAND - VKSND TPHCM;
- - Sở Tư pháp TPHCM;
- - PV06 - CA TPHCM;
- - VKSND Q.11;
- - Công an Q.11;
- - Chi cục THADS Q.11;
- - Những người tham gia tố tụng;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
Bản án số 57/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 57/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Trần Minh Dũng 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2024. Căn cứ vào Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Lư Chí Thành 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2024. Că
