|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2025/HS-ST
Ngày: 24-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đình Đoan Hùng.
- Ông Lê Quang Thanh.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Dương Lâm Thiên T - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 492/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Phước L, sinh năm 2002, tại Đồng Tháp; Nơi thường trú: Số A, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nơi ở hiện nay: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Giới tính: Nam; Vợ, con: Chưa có; Con ông: Võ Văn N, sinh năm 1969 và bà: Trần Thị L1 (chết); Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: Ngày 30/3/2025; Tạm giam: Ngày 02/4/2025. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Lê Phúc A, sinh năm 2008 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Tổ A, khóm T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của anh A là: Bà Lê Thị Hồng H, sinh năm 1974 (mẹ ruột) (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt) và ông Lê Văn Đ, sinh năm 1971 (cha ruột) (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt). Cùng địa chỉ: Tổ A, khóm T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Lê Thị Hồng H, sinh năm 1974 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Tổ A, khóm T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Phước L là người nghiện ma tuý từ năm 2020. Khoảng 21 giờ, ngày 29/3/2025, do muốn sử dụng ma túy đá nên L đi bộ từ nhà bà nội của mình tên Nguyễn Thị N1 thuộc Tổ 14, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp đến khu vực gần Ủy ban Nhân dân xã H, gặp bạn tên Lê Phúc A hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, biển số 66PA-148.23 nói đi công chuyện, rồi một mình điều khiển đến khu vực Công viên gần dốc cầu T thuộc ấp Đ, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp để tìm mua ma tuý.
Khoảng 30 phút sau, L gặp một người bạn tên K không biết rõ nhân thân, mua một tép ma tuý với giá 200.000 đồng, cầm tép ma tuý trên tay, dự định sẽ mang về nhà bà N1 sử dụng. Khi đang lưu thông trên Đường L thuộc Tổ B, ấp Đ, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp thì xe bị hư nên L dẫn xe đi được khoảng 20 mét thì bị lực lượng Công an xã H, thành phố C phối hợp với Công an tỉnh Đ phát hiện lập biên bản bắt quả tang Võ Phước L đang tàng trữ trái phép chất ma tuý và tiến hành tạm giữ:
- - 01 đoạn nhựa màu trắng, hàn kín bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong một phong bì, ghi ký hiệu “A1”, ngày 29/3/2025.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh,đã qua sử dụng có gắn 2 sim: số 0372537122 và số 0937258001.
- - 01 xe gắn máy nhãn hiệu ESPERO, số loại 50C2H, màu đen, biển số 66PA-148.23, số máy VDEQ139FMB7036853, số khung RPENCBAPEMA036853, đã qua sử dụng.
Ngoài ra, quá trình điều tra L khai nhận trước đó đã sử dụng ma tuý tại nhà bà N1 một lần và có cất giấu một bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tại nhà bà N1. Cơ quan điều tra đã thu giữ tại nhà bà Nguyễn Thị N1 01 bộ sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: vỏ chai nhựa, trên nắp vỏ chai có gắn đoạn ống hút màu xanh - trắng, đoạn ống hút thủy tinh (nỏ), một bật lửa đã qua sử dụng.
- * Kết luận giám định số 320/KL-KTHS, ngày 01/4/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ, kết luận “Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 đoạn ống nhựa màu trắng, hàn kín, được niêm phong trong phong bì còn nguyên vẹn, ký hiệu A1, gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,114 gam, loại Methamphetamine. Hoàn trả chất ma tuý còn lại sau giám định có khối lượng 0,057gam.
- * Kết quả xác định tình trạng nghiện của Võ Phước L dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine trong cơ thể.
Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định số 14/QĐ-XPHC ngày 28/5/2025 về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với Võ Phước L về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý với số tiền là 1.500.000 đồng.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, đã qua sử dụng có gắn 2 sim: số 0372537122 và số 0937258001 là của Võ Phước L, L không sử dụng điện thoại này vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại nêu trên cho L.
- - Đối với 01 xe mô tô có nhãn hiệu ESPERO, màu sơn đen, số khung: RPENCBAPEMA036853, số máy: VDEJQ139FMP7036853. Biển số 66PA-148.23. Chủ sở hữu là bà Lê Thị Hồng H, mua cho con trai là anh Lê Phúc A để làm phương tiện để sinh hoạt cá nhân hàng ngày. Ngày 29/3/2025 bị cáo Võ Phước L mượn đi mua ma túy sử dụng, anh A không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra quyết định trả cho chủ sở hữu là bà bà Lê Thị Hồng H và anh Lê Phúc A.
Trong quá trình điều tra Võ Phước L thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; kết luận giám định; biên bản xác định tình trạng nghiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 59/CT-VKS-TPCL ngày 09/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Võ Phước L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Căn cứ Điều 249 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Phước L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Võ Phước L với mức án từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.
- - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.
* Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; kết luận giám định; biên bản xác định tình trạng nghiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:
Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 29/3/2025, tại Tổ B, ấp Đ, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, Võ Phước L đang tàng trữ trái phép 0,114 gam ma tuý loại Methamphetamine để sử dụng thì bị kiểm tra, phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật.
[3] Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Võ Phước L đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, như sau:
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)...
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”
[4] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây nguy hại lớn về nhiều mặt đối với đời sống xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương nơi xảy ra vụ án.
Khi thực hiện tội phạm, bị cáo đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo nhận thức rõ tác hại của việc sử dụng các chất ma túy là gây tổn hại đến thể chất, tinh thần của con người, nó cũng là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn về ma túy trong xã hội và phát sinh các loại tội phạm khác trong khi toàn xã hội đang kiên quyết đấu tranh phòng, chống các tệ nạn và các tội phạm về ma tuý. Đáng lý ra, bị cáo phải biết tránh xa các chất ma túy, nhưng ngược lại, vì muốn có ma túy sử dụng để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội sau này, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông ngoại là ông Trần Văn T1, được Thủ tướng Chính phủ tặng “Chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù, đày – đã nêu cao tinh thần kiên trung bất khuất, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc”, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[8] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Đối với mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau trích mẫu có khối lượng 0,057 gam, loại Methamphetamine (có số thứ tự 247, mục IIC thuộc danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ), mẫu vật được dán giấy niêm phong số: 305, ngày 30/3/2025 có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K1 - Công an tỉnh Đ” và chữa ký ghi họ tên Trương Minh V, Nguyễn Quang T2 và Võ Phước L, là vật mà Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) bộ sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: Vỏ chai nhựa, trên nắp vỏ chai có gắn đoạn ống hút màu xanh - trắng, đoạn ống hút thủy tinh (nỏ), một bật lửa đã qua sử dụng; tất cả được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS2 23006711, là vật liên quan đến việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
(Hiện vật chứng đang được Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh tạm quản lý, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/6/2025).
[9] Các vấn đề khác: Đối với người tên K mà Võ Phước L khai nhận đã mua ma tuý không rõ nhân thân, địa chỉ không làm việc được nên không đủ cơ sở xử lý.
[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố C về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Tuyên bố bị cáo Võ Phước L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Võ Phước L 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/3/2025.
Tịch thu, tiêu hủy: Mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau trích mẫu có khối lượng 0,057 gam, loại Methamphetamine (có số thứ tự 247, mục IIC thuộc danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ), mẫu vật được dán giấy niêm phong số: 305, ngày 30/3/2025 có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K1 - Công an tỉnh Đ” và chữa ký ghi họ tên Trương Minh V, Nguyễn Quang T2 và Võ Phước L; 01 (một) bộ sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: Vỏ chai nhựa, trên nắp vỏ chai có gắn đoạn ống hút màu xanh - trắng, đoạn ống hút thủy tinh (nỏ), một bật lửa đã qua sử dụng; tất cả được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS2 23006711.
(Hiện vật chứng đang được Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh tạm quản lý, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/6/2025).
Buộc bị cáo Võ Phước L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Văn Phong |
Bản án số 57/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 57/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
