Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 57/2025/HS-ST

Ngày: 21-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Bông Hường
  2. Ông Nguyễn Văn Hoàng

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Khổng Sơn Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Quang T, sinh năm 1996, tại Đồng Nai; Thường trú: 4001/2 Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nơi ở: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 (chết) và bà Trần Thị H; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 26/3/2015, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo bản án số 68/2015/HSST ngày 26/3/2015, chưa đóng án phí, chưa xóa án tích; Ngày 27/5/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 68/2015/HSST ngày 26/3/2015 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, buộc Nguyễn Quang T phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 02 năm tù, theo bản án số 35/2015/HSST, đã chấp hành xong hình phạt ngày 31/10/2016, chưa đóng án phí, chưa xóa án tích; tiền sự: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2025

- Có mặt

Bị hại: Bà Trịnh Thụy Huyền T2, sinh năm: 1990

Địa chỉ: D lô B, chung cư K, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. – Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quang T tự nhận là nhân viên Công ty S1, địa chỉ C P, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Thông qua mạng xã hội, T quen biết với chị Trịnh Thụy Huyền T2, biết chị T2 có nhu cầu mua nhà nên T đã giới thiệu bán căn nhà tại địa chỉ 6 P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 1.450.000.000 đồng và nói với chị T2 đây là căn nhà Ngân hàng gửi qua Công ty của T để thanh lý nên có giá rẻ hơn thị trường. Sau khi chị T2 được T đưa đi xem nhà, thì chị T2 đồng ý mua nhà trên và hẹn ngày 15/11/2019 sẽ kí hợp đồng đặt cọc trị giá 100.000.000 đồng.

Ngày 15/11/2019, Nguyễn Quang T sử dụng thông tin chứng minh nhân dân số: [...] cấp ngày 03/12/2016 tại Công an tỉnh Đ, tên Nguyễn Quang T, sinh ngày: 08/02/1992, quê quán: T, Thanh Hóa, hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai để làm hợp đồng đặt cọc và ký kết với chị Trịnh Thụy H1 Thương hợp đồng với nội dung phía chị T2 sẽ đặt cọc mua căn nhà, số tiền 100.000.000 đồng, sau 30 ngày sẽ thanh toán hết. Ngày 20/11/2019, do bận công việc nên chị T2 nhờ em gái là chị Trịnh Thụy Huyền T3 đến Ngân hàng Thương mại cổ phần N chi nhánh T5 tại địa chỉ số A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để rút số tiền 100.000.000 đồng và đưa cho T.

Sau khi nhận tiền, T đã hứa hẹn bàn giao căn nhà, sau đó khóa số điện thoại, chặn liên lạc với chị T2, Nên ngày 25/12/2019, chị T2 đã có đơn tố cáo Nguyễn Quan T4 gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Nguyễn Quang T khai nhận là nhân viên của Công ty S1, do Phạm Quốc V (không rõ lai lịch) là chủ. Khoảng tháng 7/2019, V giao cho T rao bán căn nhà tại địa chỉ 6 P, Phường A, quận G, thì được chị Trịnh Thụy Huyền T2 liên hệ, ký hợp đồng đặt cọc trị giá 100.000.000 đồng. Sau khi, T nhận tiền đặt cọc, T đã nộp tiền về cho công ty, đến ngày giao nhà, V nói căn nhà trên đã bán cho khách hàng khác, nên không cần liên lạc với chị T2. Sau đó, T nghỉ việc và bị V thu lại sim điện thoại. Việc Nguyễn Quang T khai như trên là không có căn cứ, sau khi ký hợp đồng đặt cọc và nhận 100.000.000 đồng của chị Trịnh Thụy Huyền T2, T đã cắt liên lạc, không thực hiện hợp đồng, không trả lại tiền cho chị T2. Qua xác minh tại địa chỉ C P, phường T, quận T, không có Công ty S1 hay nhân viên tên Phạm Quốc V, Nguyễn Quang T. Làm việc với ông Đinh Văn S là chủ sở hữu căn nhà tại địa chỉ 6 P, Phường A, quận G (vào thời điểm xảy ra vụ án) được biết ông S mua bán nhà không thông qua công ty B và không quen biết với Nguyễn Quang T.

Kết luận giám định số 2506/KLGĐ-TT ngày 11/12/2020 của Phòng K

Công an Thành phố H, kết luận:

“II. ĐỐI TƯỢNG GIÁM ĐỊNH

1. Mẫu cần giám định:

  • Hợp đồng đặt cọc (V/v mua bán nhà) đề ngày 15/11/2019, giữa bên đặt cọc: Trịnh Thụy Huyền T2 với bên nhận đặt cọc: Nguyễn Quang T (ký hiệu A1).
  • Giấy giao nhận tiền đặt cọc mua bán nhà đất đề ngày 15/11/2019, giữa bên đặt cọc: Trịnh Thụy Huyền T2 với bên nhận đặt cọc: Nguyễn Quang T (Ký hiệu A2).

2. Tên tài liệu có liên quan hoặc gửi kèm theo:

  • Bản tự khai của Nguyễn Quang T, đề ngày 27/11/2020 (Ký hiệu M).

V. KẾT LUẬN VỀ ĐỐI TƯỢNG GIÁM ĐỊNH

Chữ viết họ tên Nguyễn Quang T trên hai tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 (đã nêu ở mục II.1) so với chữ viết của Nguyễn Quang T trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M (đã nêu ở mục II.2) do cùng một người viết ra.” (Bút lục số 17)

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) hợp đồng đặt cọc (V/v mua bán nhà) đề ngày 15/11/2019, giữa bên đặt cọc: Trịnh Thụy Huyền T2 với bên nhận đặt cọc: Nguyễn Quang T. Hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án.
  • 01 (một) giấy giao nhận tiền đặt cọc mua bán nhà đất đề ngày 15/11/2019, giữa bên đặt cọc: Trịnh Thụy Huyền T2 với bên nhận đặt cọc: Nguyễn Quang T. Hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án.

* Về trách nhiệm dân sự:

Chị Trịnh Thụy Huyền T2 yêu cầu Nguyễn Quang T bồi thường số tiền 100.000.000 đồng, bị can hiện nay chưa bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số: 84/CT-VKSQTP ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị: Áp dụng Điều 38, Điều 50; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T từ 03 năm đến 04 năm tù.

Về phần vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quang T thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Đánh giá hành vi của bị cáo:

Tại cơ quan điều tra bị cáo khai nhận: Bị cáo là nhân viên của Công ty S1, do Phạm Quốc V (không rõ lai lịch) là chủ. Khoảng tháng 7/2019, V giao cho bị cáo rao bán căn nhà tại địa chỉ 6 P, Phường A, quận G, thì được chị Trịnh Thụy Huyền T2 liên hệ, ký hợp đồng đặt cọc trị giá 100.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền đặt cọc, bị cáo đã nộp tiền về cho công ty, đến ngày giao nhà, V nói căn nhà trên đã bán cho khách hàng khác, nên không cần liên lạc với chị T2. Sau đó, bị cáo nghỉ việc và bị V thu lại sim điện thoại. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo: Sau khi ký hợp đồng đặt cọc và nhận 100.000.000 đồng của chị Trịnh Thụy Huyền T2, bị cáo đã cắt liên lạc, không thực hiện hợp đồng, không trả lại tiền cho chị T2. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm; xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo nhận thức được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng mà không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc để giáo dục bị cáo nói riêng và để đảm bảo việc đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung cho toàn xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T đã có tiền án về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội. Lần phạm tội này của bị cáo là thuộc trường hợp tái phạm nên cần áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo khi lượng hình.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội nhưng tại phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo do đó cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi lượng hình.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Do đó, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Quang T.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại bà Trịnh Thụy Huyền T2 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 100.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho người bị hại nên ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bà T2 số tiền là 100.000.000 đồng.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • 01 (một) hợp đồng đặt cọc (V/v mua bán nhà) đề ngày 15/11/2019, giữa bên đặt cọc: Trịnh Thụy Huyền T2 với bên nhận đặt cọc: Nguyễn Quang T. Hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
  • 01 (một) giấy giao nhận tiền đặt cọc mua bán nhà đất đề ngày 15/11/2019, giữa bên đặt cọc: Trịnh Thụy Huyền T2 với bên nhận đặt cọc: Nguyễn Quang T. Hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ Điều 174 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

[2] Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2025

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Quang T có trách nhiệm bồi thường cho bà Trịnh Thụy H1 Thương số tiền là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[4] Về xử lý vật chứng:

Cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án: 01 (một) hợp đồng đặt cọc (V/v mua bán nhà) đề ngày 15/11/2019, giữa bên đặt cọc: Trịnh Thụy Huyền T2 với bên nhận đặt cọc: Nguyễn Quang T; 01 (một) giấy giao nhận tiền đặt cọc mua bán nhà đất đề ngày 15/11/2019, giữa bên đặt cọc: Trịnh Thụy Huyền T2 với bên nhận đặt cọc: Nguyễn Quang T

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000 (năm triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[6] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo, người bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh (1);
  • - VKSND Tp.Hồ Chí Minh (1)
  • - VKSND quận Tân Phú (3);
  • - THADS quận Tân Phú (1);
  • - THAHS quận Tân Phú (2);
  • - Phòng PC53 CA Tp. HCM (1);
  • - Trại tạm giam Chí Hòa – Phân Trại khu vực Tân Phú (2);
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1);
  • - Sở Tư Pháp (1);
  • - Lưu: VT (1); hồ sơ vụ án (1). (18)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thị Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 57/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger