Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN Ô MÔN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2025/HS-ST

Ngày: 20-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Mẫn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Ngô Minh Thi
  2. Bà Bùi Thanh Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thạnh Hưng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 50/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Đào Phạm Chí K1, tên gọi khác: không; sinh ngày 03/10/2001, nơi sinh: Cần Thơ; Giới tính: Nam; dân tộc: Khmer; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; con ông Phạm Chí H và bà Đào Thị T; vợ Huỳnh Bé G; con: 01 người, sinh năm 2023. Bị tạm giữ ngày 15/12/2024, chuyển tạm giam ngày 24/12/2024; hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Ô thuộc Trại tạm giam Công an thành phố C. Có mặt
  2. Lê Hữu T1, tên gọi khác: không; sinh ngày 09/4/2003; nơi sinh: Cần Thơ; Giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; nơi cư trú: khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ; con ông Lê Văn N và bà Hồ Thị C; tiền án: không; tiền sự: 01 lần. Ngày 26/9/2024, bị Công an phường T, quận Ô xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã chấp hành đóng phạt. Chưa xoá tiền sự.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 15/12/2024, chuyển tạm giam ngày 24/12/2024, đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an quận Ô (nay là P trại tạm giam khu vực Ô thuộc Trại tạm giam Công an thành phố C). Có mặt

  1. Nguyễn Phạm Hồng A, sinh ngày 19/7/2006 tại An Giang; Giới tính: Nữ; đăng ký thường trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; Chỗ ở (hiện nay): khu vực 7, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Phạm Thị D. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Liêu Q, sinh năm 2000. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)

- Người làm chứng:

  1. Ông Võ Minh T3, sinh năm 1998. Địa chỉ: Khu V, phường L, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
  2. Ông Nguyễn Trí T4, sinh năm 1999. Địa chỉ: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
  3. Ông Đào Quốc K, sinh năm 1997. Địa chỉ: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
  4. Ông Châu Hoàng Q1, sinh năm 2002. Địa chỉ: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 30 ngày 15/12/2024 Đội CSĐTTP về Ma túy, Công an quận Ô phối hợp với Công an phường T thực hiện Lệnh khám xét khẩn cấp đối với Đào Phạm Chí K1 và Lê Hữu T1. Qua khám xét lực lượng Công an phát hiện trên người của Đào Phạm Chí K1 có 01 (một) gói nilon nẹp miệng bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma tuý) cùng một số vật dụng, phát hiện tại nhà của Lê Hữu T1 nhiều vật dụng dùng để sử dụng ma tuý (BL 67-68, 69-70).

Ngoài ra, tại nhà của Lê Hữu T1 có mặt của Nguyễn Phạm Hồng A (sinh năm 2006, ĐKTT: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang) qua khám xét khẩn cấp người không thu giữ gì. (BL 71-72)

Sau đó lực lượng tiến hành niêm phong các vật chứng đã thu giữ được và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.

Kết luận giám định số 422/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng K3, Công an thành phố C kết luận: tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 1,7427 gam. (BL 28)

Tại Cơ quan điều tra, Đào Phạm Chí K1Lê Hữu T1 khai nhận về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý như sau:

Đào Phạm Chí K1 khai nhận: gói ma tuý đã thu giữ là của K1, loại ma tuý đá, ma tuý do K1 mua của một người đàn ông tên G1 (không rõ họ, tên, địa chỉ) ở gần cầu Q (quận N, thành phố Cần Thơ) vào ngày 08/12/2024 với giá 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng), mục đích để chia nhỏ bán lại kiếm lời. K1 bắt đầu bán ma tuý từ khoảng tháng 10/2024 đến khi bị bắt, tiền vốn do K1 tự bỏ ra khoảng 1.500.000 đồng để mua, không có ai hùn. Trong thời gian trên, K1 đã bán cho Võ Minh T3 (Tân Đít đen) được 04 lần, mỗi lần giá 200.000 đồng, bán cho một người có tên facebook “Chà là” (chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể) ở phường C, quận Ô 02 lần, mỗi lần giá 200.000 đồng, bán cho Đào Quốc K (Khoa nhóc) 04 lần, mỗi lần giá 400.000 đồng, bán cho Nguyễn Trí T4 03 đến 04 lần, mỗi lần từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng, bán cho Châu Hoàng Q1 03 đến 04 lần, mỗi lần từ 300.000 đồng đến 600.000 đồng. Số ma tuý để bán đều do K1 tự mua, tự chia nhỏ và liên hệ với người mua để bán kiếm lời. Đối với Lê Hữu T1 thì K1 không có thoả thuận với T1 nhưng T1 biết K1 có bán ma tuý và T1 có đi giao ma tuý dùm cho K1 04 lần gồm giao cho K 02 lần, lần một ngày 06/12/2024 giá 300.000 đồng, lần hai ngày 13/12/2024 giá 400.000 đồng, giao cho T4 02 lần, lần một ngày 07/12/2024 giá 200.000 đồng, lần hai ngày 08/12/2024 giá 300.000 đồng. K1 thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma tuý được 3.000.000 đồng, dùng để tiêu xài cá nhân và tiếp tục mua ma tuý để bán lại kiếm lời, K1 không có chia tiền thu lợi cho T1 nhưng có lo tiền ăn uống, tiền thuốc cho T1 và tiêu xài cá nhân do T1 bị tai nạn. Khi khám xét thu giữ số tiền 850.000 đồng là tiền thu lợi bất chính còn lại. (BL 79-84, 117-128, 170-171)

Lê Hữu T1 khai nhận là bạn bè quen biết với K1, K1 có sống tại nhà của T1 tại khu vực T, phường T, quận Ô, T1 biết được K1 có mua bán trái phép chất ma tuý và đã đi giao ma tuý dùm cho K1 được 04 lần, cụ thể giao cho K 02 lần, lần một ngày 06/12/2024 giá 300.000 đồng, lần hai ngày 13/12/2024 giá 400.000 đồng, cho T4 02 lần, lần một ngày 07/12/2024 giá 200.000 đồng, lần hai ngày 08/12/2024 giá 300.000 đồng. Ma tuý là của K1, còn T1 chỉ đi giao dùm K1, tiền mua bán ma tuý thì người mua tự thanh toán với K1, chỉ có một lần nhận tiền của T4 300.000 đồng. K1 không chia tiền hưởng lợi cho T1K1 lo cho T1 ăn uống, có ma tuý sử dụng và tiền tiêu xài cá nhân. (BL 85-91, 129-134, 172-173).

Qua làm việc với những người mua ma tuý của K1, T1, xác định:

  • - Võ Minh T3: mua ma tuý của K1 từ khoảng đầu tháng 10/2024 được 02 lần, mỗi lần giá 200.000 đồng, giao ma tuý tại nhà của Lê Hữu T1. Đã tiến hành cho nhận dạng thì T3 nhận dạng được Đào Phạm Chí K1 là người bán ma tuý cho T3 (BL 99-102, 145, 177)
  • - Nguyễn Trí T4: mua ma tuý của K1 từ khoảng đầu tháng 10/2024 được 03 đến 04 lần, giá từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng, một lần K1 giao một mình, một lần K1 đi chung với Hồng A giao ma tuý tại nhà trọ thuộc khu vực A, phường C, T1 giao ma tuý tại gần nhà T1 được 02 lần vào tháng 12/2024, một lần giá 300.000 đồng, một lần giá 400.000 đồng. Đã tiến hành cho nhận dạng thì T4 nhận dạng được Đào Phạm Chí K1, Lê Hữu T1 là người bán ma tuý cho T4. (BL 103-107, 146, 147, 178)
  • - Đào Quốc K: mua ma tuý của K1 từ khoảng đầu tháng 10/2024, đã mua được 04 lần, giá từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng, một lần trực tiếp gặp K1 mua ở huyện T, một lần K1 chở Hồng A giao ma tuý tại khu V, phường C, quận Ô, 02 lần K1 giao ma tuý tại đầu hẻm gần nhà của T1. Còn T1 giao ma tuý cho K được 02 lần vào khoảng đầu tháng 12/2024, lần 1 giá 200.000 đồng, lần 2 giá 300.000 đồng, giao tại đầu hẻm gần nhà của T1. Đã tiến hành cho nhận dạng thì K nhận dạng được Đào Phạm Chí K1, Lê Hữu T1 là người bán ma tuý cho K (BL 108-109, 148, 149, 179,)
  • - Châu Hoàng Q1: mua ma tuý của K1 từ khoảng đầu tháng 10/2024, được 03 lần, mỗi lần giá 200.000 đồng, do K1 giao trực tiếp, một lần giao tại huyện T, thành phố Cần Thơ, một lần giao tại gần bãi rác thuộc phường C, một lần giao gần cầu Ô. Đã tiến hành cho nhận dạng thì Q1 nhận dạng được Đào Phạm Chí K1 là người bán ma tuý cho Q1 (BL 114, 150, 180)

Đối với Nguyễn Phạm Hồng A: Hồng AĐào Phạm Chí K1 có mối quan hệ yêu đương khoảng 03 tháng và chung sống cùng nhau tại nhà của Lê Hữu T1 tại phường T, quận Ô. Trong thời gian chung sống với K1 thì Hồng A có biết được việc K1T1 có mua bán trái phép chất ma tuý nhưng không có tham gia mua bán ma tuý cùng với K1. Hồng A biết K1 có mua bán ma tuý là do có thấy nhiều đối tượng ma tuý đến gặp K1 tại nhà T1, có đọc tin nhắn của K1 và có lần những người mua ma tuý không liên lạc cho K1 được thì có nhắn cho Hồng A nhưng Hồng A không trả lời, khi nói lại cho K1 thì K1 kêu chặn tin nhắn của những người này, Hồng A không có thoả thuận mua bán ma tuý với người mua ma tuý. Có hai lần Hồng A chứng kiến việc K1 giao ma tuý cho KT4 do lúc đó (không nhớ rõ ngày tháng) Hồng A đi làm về thì K1 đến rước rồi nói đi công chuyện nên K1 chở Hồng A đi cùng, sau đó Hồng A mới biết là K1 đi giao ma tuý. Hồng A biết việc mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng do quan hệ tình cảm nên không tố giác đối với K1. (BL 92-98, 135-140, 174-176).

Đối với Đào Phạm Chí K1, Lê Hữu T1: K1 với vai trò là chủ mưu, tự liên hệ mua bán trái phép chất ma tuý và tự thực hiện việc giao bán ma tuý cho đối tượng nghiện, T1 với vai trò đồng phạm giúp sức giao ma tuý cho K1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận Ô đã khởi tố bị can đối với Đào Phạm Chí K1, Lê Hữu T1 về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Đối với Nguyễn Phạm Hồng A: không tham gia việc mua bán trái phép chất ma tuý nhưng Hồng A biết việc K1, T1 mua bán trái phép chất ma tuý nhưng không tố giác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận Ô đã khởi tố bị can về tội không tố giác tội phạm.

Đối với đối tượng tên G1 là người bán ma tuý cho Đào Phạm Chí K1, qua xác minh do không rõ họ tên, địa chỉ nên chưa tiến hành làm việc được. Tiếp tục xác minh, làm rõ, nếu đủ căn cứ sẽ xử lý sau. (BL 306).

Đối với các đối tượng Nguyễn Trí T4, Đào Quốc K đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Đối với các đối tượng khác chưa xác định được họ, tên, địa chỉ cụ thể tiếp tục xác minh làm rõ, nêu đủ cơ sở sẽ xử lý sau.

Đối với xe mô tô BS 83T1-013.18, qua xác minh do anh Liêu Q, sinh năm 2000, ĐKTT: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng đứng tên sở hữu. Anh Q là anh rể của K1, mua xe từ năm 2022, đến tháng 11/2024 do thấy K1 không có phương tiện nên cho K1 mượn dùng làm phương tiện đi lại, không biết việc K1 sử dụng liên quan đến ma tuý. (BL 115-116, 275)

Vật chứng: 01 (một) gói niêm phong số 422/KL-KTHS ngày 20/12/2024 có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K3, Công an thành phố C, chữ ký cán bộ Đặng Thúy H1, chữ ký cán bộ niêm phong Phan Huỳnh Nhẫn. (BL 263); 01 (một) quẹt ga màu tím đã qua sử dụng; 01 (một) bình tự chế bằng nhựa phần nắp màu xanh có gắn hai đoạn ống hút màu trắng, xanh đã qua sử dụng; 01 (một) cuộn băng keo đen đã qua sử dụng; 01 (một) chai gas màu đen, thân chai có chữ Bluesky đã qua sử dụng; 10 (mười) túi ni lông nẹp miệng đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12, imeil 865792061772188/00, imei2 865792061772196/00 đã qua sử dụng có gắn sim số 0798063174, mã số thẻ sim 8401181192023262WD và sim số 0389039884 mã số thẻ sim 8984048000910652529, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại MX KING 150, biển số 83T1-01318 số máy G3E6E0579241, số khung MH3UG0750LK064528 đã qua sử dụng; 01 (một) quẹt gas màu đỏ đã qua sử dụng; 01 (một) cây cân điện tử mini màu xám, bên ngoài có dòng chữ "Itemno P138 Digital Scale 200g x 0,01g 1* CR2032 Battery Made in China” đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn ống hút không màu một đầu hàn kín một đầu cắt nhọn đã qua sử dụng; 01 (một) Nỏ thuỷ tinh đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng xanh một đầu hàn kín một đầu cắt nhọn đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động màu xanh có ghi chữ HUAWEI, số seri YGC6R19306010781, số imeil 865209043274696, số imei2 865209043299701, không có thẻ sim, đã qua sử dụng; 02 (hai) cây kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) đầu khò lửa bằng kim loại đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng); 04 (bốn) bao thư niêm phong chứa đĩa ghi hình hỏi cung bị can (chuyển cùng hồ sơ vụ án).

Tại Cáo trạng số 62/CT-VKSOM ngày 06 tháng 5 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ đã truy tố Đào Phạm Chí K1, Lê Hữu T1 đã phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015; bị cáo Nguyễn Phạm Hồng A đã phạm tội không tố giác tội phạm theo khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự 2015

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự:

Đối với bị cáo Đào Phạm Chí K1Lê Hữu T1: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo K1 từ 09 đến 10 năm tù. Bị cáo T1 từ 07 đến 08 năm tù. Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo K1 từ 20 đến 30 triệu đồng.

Đối với bị cáo Nguyễn Phạm Hồng A: áp dụng khoản 1 điều 390, điểm i, n, s khoản 1 điều 51, điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 02 năm. Hình phạt bổ sung: không

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) gói niêm phong số 422/KL-KTHS ngày 20/12/2024 có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K3, Công an thành phố C, chữ ký cán bộ Đặng Thúy H1, chữ ký cán bộ niêm phong Phan Huỳnh N1; 01 (một) quẹt ga màu tím đã qua sử dụng; 01 (một) bình tự chế bằng nhựa phần nắp màu xanh có gắn hai đoạn ống hút màu trắng, xanh đã qua sử dụng; 01 (một) cuộn băng keo đen đã qua sử dụng; 01 (một) chai gas màu đen, thân chai có chữ Bluesky đã qua sử dụng; 10 (mười) túi ni lông nẹp miệng đã qua sử dụng; 01 (một) quẹt gas màu đỏ đã qua sử dụng; 01 (một) cây cân điện tử mini màu xám, bên ngoài có dòng chữ "Itemno P138 Digital Scale 200g x 0,01g 1* CR2032 Battery Made in China” đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn ống hút không màu một đầu hàn kín một đầu cắt nhọn đã qua sử dụng; 01 (một) nỏ thuỷ tinh đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng xanh một đầu hàn kín một đầu cắt nhọn đã qua sử dụng; 02 (hai) cây kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) đầu khò lửa bằng kim loại đã qua sử dụng

Tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12, imeil 865792061772188/00, imei2 865792061772196/00 đã qua sử dụng có gắn sim số 0798063174, mã số thẻ sim 8401181192023262WD và sim số 0389039884 mã số thẻ sim 8984048000910652529, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động màu xanh có ghi chữ HUAWEI, số seri YGC6R19306010781, số imeil 865209043274696, số imei2 865209043299701, không có thẻ sim, đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng)

Trả lại cho chủ sở hữu anh Liêu Q: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại MX KING 150, biển số 83T1-01318 số máy G3E6E0579241, số khung MH3UG0750LK064528 đã qua sử dụng.

Tịch thu, lưu hồ sơ: 04 (bốn) bao thư niêm phong chứa đĩa ghi hình hỏi cung bị can (chuyển cùng hồ sơ vụ án).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Nội dung vụ án:

Hội đồng xét xử xét thấy, lời thừa nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, đủ cơ sở kết luận:

Trong thời gian từ tháng 10/2024 đến 15/12/2024, bị cáo Đào Phạm Chí K1Lê Hữu T1 đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý cho các đối tượng nghiện ma túy nhằm mục đích tư lợi cá nhân và thu lợi bất chính. Trong đó, K1 có vai trò chính là người bỏ tiền ra mua ma túy về bán lại, T1 là người cóp vai trò giúp sức giao ma túy cho các đối tượng giùm K1. Trong thời gian trên, bị cáo K1 đã thu lợi bất chính số tiền 3.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của Đào Phạm Chí K1, Lê Hữu T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma tuý theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đối với Nguyễn Phạm Hồng A biết việc K1T1 mua bán trái phép chất ma tuý, nhưng vì quan hệ tình cảm với K1 nên đã không trình báo đến cơ quan chức năng. Hành vi nêu trên của Nguyễn Phạm Hồng A đã đủ yếu tố cấu thành tội Không tố giác tội phạm theo khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích trên Viện kiểm sát nhân dân quận Ô truy tố các bị cáo trước pháp luật là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người đúng tội.

[3]. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý của Nhà nước về ma túy, đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng, trật tự an toàn xã hội và tương lai của thế hệ trẻ. Trong bối cảnh toàn xã hội đang quyết liệt phòng, chống tệ nạn ma túy, hành vi của các bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, cần phải xử lý nghiêm để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và ổn định xã hội.

[4]. Bị cáo K1T1 phạm tội có tính chất đồng phạm, nhưng ở mức độ giản đơn. Bị cáo K1 là người có vai trò chính. Bị cáo T1 có vai trò giúp sức tích cực nên cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo gây nên. Tuy nhiên, xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên đã xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó, xét thấy bị cáo K1 phạm tội nhằm thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền theo quy định tại 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo để đủ tính răn đe và giáo dục bị cáo.

[5]. Bị cáo Nguyễn Phạm Hồng A, tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận có hai lần trực tiếp chứng kiến K1 giao ma túy cho các con nghiện, ngoài ra còn khoảng 3-4 lần bị cáo chứng kiến các con nghiện lại tìm kiếm K1 lấy ma túy, còn đùa giỡn lớn tiếng nơi công cộng (ngoài đường). Qua đó, cho thấy mặc dù bị cáo biết rõ hành vi phạm tội của người khác nhưng không tố giác, thể hiện thái độ thờ ơ, để tội phạm hoạt động một cách công khai. Điều đáng nói hơn đây là tội phạm về ma túy. Trong khi Đ và N2 nhước ta cùng chung tay ra sức đấu tranh phòng ngừa tội phạm để chăm lo hạnh phúc nhân dân; trong bối cảnh tội phạm về ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, việc không tố giác tội phạm là hành vi nguy hiểm, nên cần bị xử lý nghiêm để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm công dân trong việc phát hiện, đấu tranh phòng chống tội phạm. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo một thời gian hợp lý để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo phạm tội là phụ nữ có thai nên đã xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6]. Về vật chứng: Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với quy định của pháp luật, nên cần chấp nhận.

[7]. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng điểm b khoản 2, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đào Phạm Chí K1Lê Hữu T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt Đào Phạm Chí K1:

  • - Hình phạt chính: 09 (chín) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2024
  • - Hình phạt bổ sung: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Xử phạt Lê Hữu T1: 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2024.

2. Áp dụng: khoản 1 Điều 390; điểm s, n, i khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phạm Hồng A phạm tội “không tố giác tội phạm”

Xử phạt Nguyễn Phạm Hồng A: 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) gói niêm phong số 422/KL-KTHS ngày 20/12/2024 có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K3, Công an thành phố C, chữ ký cán bộ Đặng Thúy H1, chữ ký cán bộ niêm phong Phan Huỳnh N1; 01 (một) quẹt ga màu tím đã qua sử dụng; 01 (một) bình tự chế bằng nhựa phần nắp màu xanh có gắn hai đoạn ống hút màu trắng, xanh đã qua sử dụng; 01 (một) cuộn băng keo đen đã qua sử dụng; 01 (một) chai gas màu đen, thân chai có chữ Bluesky đã qua sử dụng; 10 (mười) túi ni lông nẹp miệng đã qua sử dụng; 01 (một) quẹt gas màu đỏ đã qua sử dụng; 01 (một) cây cân điện tử mini màu xám, bên ngoài có dòng chữ “Itemno P138 Digital Scale 200g x 0,01g 1* CR2032 Battery Made in China” đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn ống hút không màu một đầu hàn kín một đầu cắt nhọn đã qua sử dụng; 01 (một) nỏ thuỷ tinh đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng xanh một đầu hàn kín một đầu cắt nhọn đã qua sử dụng; 02 (hai) cây kéo bằng kim loại màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) đầu khò lửa bằng kim loại đã qua sử dụng

Tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12, imeil 865792061772188/00, imei2 865792061772196/00 đã qua sử dụng có gắn sim số 0798063174, mã số thẻ sim 8401181192023262WD và sim số 0389039884 mã số thẻ sim 8984048000910652529, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động màu xanh có ghi chữ HUAWEI, số seri YGC6R19306010781, số imeil 865209043274696, số imei2 865209043299701, không có thẻ sim, đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng).

Trả lại cho chủ sở hữu anh Liêu Q: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại MX KING 150, biển số 83T1-01318 số máy G3E6E0579241, số khung MH3UG0750LK064528 đã qua sử dụng.

Buộc bị cáo Đào Phạm Trí K2 nộp lại số tiền thu lợi bất chính 3.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban T mhường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng)

Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Tp. Cần Thơ;
  • - VKS ND TP Cần Thơ;
  • - Sở Tư pháp Tp. Cần Thơ;
  • - Viện KSND khu vực 2 - Cần Thơ;
  • - Công an thành phố Cần Thơ (CQĐT, CQ THAHS);
  • - Cục T.H.A Dân sự Tp Cần Thơ;
  • - Bị cáo và những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Mẫn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 57/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Chí Khang mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger