|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 57/2025/HS-ST Ngày 19-6-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Nhẫn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Hà và ông Nguyễn Hữu Huân.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Dũng, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Văn P, sinh năm 1981 tại huyện L. Tên gọi khác: Không.
Nơi thường trú: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Vi Văn T, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959; vợ: Vũ Thị H, sinh năm 1981 (đã ly hôn); con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)
- + Anh Trần Ngọc H1, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)
- + Chị Lê Thị C, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn G, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
- + Chị Kha Thị S, sinh năm 1984; địa chỉ: Bản K, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
- + Anh Nguyễn Tiến T1, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)
- + Ông Đào Ngọc V, sinh năm 1958; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 25 phút ngày 15/01/2025, tại nhà nghỉ G ở thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Công an huyện L phối hợp với Công an xã T, huyện L kiểm tra bắt quả tang tại phòng số 202 và phòng số 204 của nhà nghỉ 02 đôi nam nữ đang có hành vi mua bán dâm, cụ thể:
Tại phòng số 202 tầng 2 nhà nghỉ G đối tượng mua dâm là Nguyễn Văn L1, sinh năm 1988 trú tại thôn H, xã C, huyện L và đối tượng bán dâm là Lê Thị C, sinh năm 1978 trú tại tổ dân phố B, thị trấn G, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Tại phòng số 204 tầng 2 nhà nghỉ G đối tượng mua dâm là Trần Ngọc H1, sinh năm 1986 trú tại tổ dân phố (TDP) C, thị trấn Đ, huyện L và đối tượng bán dâm là Kha Thị S, sinh năm 1984 trú tại bản Khe Quỳnh, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An.
Vật chứng thu giữ tại phòng số 202, phòng số 204 gồm: 02 bao cao su chưa qua sử dụng, 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 vỏ bao cao su. Kiểm tra thu giữ trên người Chi số tiền 200.000 đồng, thu giữ trên người Sánh số tiền 200.000 đồng.
Cùng ngày, Vi Văn P đến Công an huyện L đầu thú về hành vi môi giới mại dâm và giao nộp số tiền 200.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định được như sau: Tháng 11 năm 2024, Vi Văn P thuê nhà của anh Nguyễn Tiến T1, sinh năm 1987 ở thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang để mở quán bán nước lấy tên “Cà phê 1981”. Đến đầu tháng 01 năm 2025, có chị Kha Thị S, sinh năm 1984 trú tại bản Khe Quỳnh, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An và Lê Thị C, sinh năm 1978 trú tại TDP B, thị trấn G, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đến xin làm nhân viên phục vụ quán, P đồng ý. Giữa P với S và C thoả thuận, P sẽ nuôi S và C ăn ở tại quán, S và C làm nhân viên bưng bê, dọn dẹp quán cà phê. Khi khách đến có nhu cầu mua dâm thì P sẽ điều Sánh và C đi bán dâm, với giá 350.000 đồng/01 lần mua dâm. Sau khi bán dâm xong P hưởng lợi 150.000 đồng, còn S và Chi trả tiền nhà nghỉ 50.000 đồng, số tiền còn lại Sánh, C hưởng.
Khoảng 13 giờ ngày 15/01/2025, khi P đang ở quán cùng S và C thì có Nguyễn Văn L1 và Trần Ngọc H1 đến gặp P đặt vấn đề mua dâm với nhân viên, P đồng ý. P và L1 thỏa thuận giá mua dâm nhân viên là 300.000 đồng/01 người/01 lần, L1 trả P số tiền 600.000 đồng là tiền L1, H1 mua dâm. P cầm tiền rồi đưa cho S và C mỗi người 200.000 đồng để S và C đi bán dâm cho L1, H1 và trả tiền nhà nghỉ, còn P giữ lại 200.000 đồng. S và C cầm tiền rồi đưa L1, H1 đến nhà nghỉ G ở thôn N, xã T, huyện L do ông Đào Ngọc V, sinh năm 1958, trú tại TDP C, thị trấn Đ, huyện L làm chủ để bán dâm. Đến khoảng 13 giờ 25 phút cùng ngày khi C đang bán dâm cho L1 tại phòng số 202, S đang bán dâm cho H1 tại phòng số 204 thì bị Công an huyện L phối hợp cùng Công an xã T, huyện L bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Đối với Nguyễn Văn L1, Trần Ngọc H1 có hành vi mua dâm, Lê Thị C, Kha Thị S có hành vi bán dâm. Ngày 11/4/2025, Công an tỉnh B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L1, H1, C và Sánh theo quy định của pháp luật.
Đối với anh Nguyễn Tiến T1 và ông Đào Ngọc V, quá trình điều tra xác định anh T1, ông V không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của P nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Về vật chứng: 02 bao cao su chưa qua sử dụng; 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su và số tiền 600.000 đồng, Cơ quan điều tra chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam để xử lý theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra, Vi Văn P đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 51/CT-VKS ngày 28/4/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố bị cáo Vi Văn P về tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn P trình bày: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo thấy ăn năn hối hận về hành vi của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã phát biểu lời luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ: Điểm đ khoản 2, khoản 4 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Vi Văn P từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”, thời hạn tù tính từ tạm giữ, tạm giam ngày 15/01/2025. Phạt bổ sung bị cáo P 10.000.000 đồng để sung vào công quỹ Nhà nước.
Về vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 600.000. Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su chưa sử dụng, 01 bao cao su đã qua sử dụng và 01 vỏ bao cao su.
Về án phí: Bị cáo Vi Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên.
[3] Trước cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan Điều tra đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến của quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 13 giờ ngày 15/01/2025, tại quán C1 ở thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Vi Văn P có hành vi môi giới cho Lê Thị C và Kha Thị S (là nhân viên quán) bán dâm cho Nguyễn Văn L1 và Trần Ngọc H1, thu lợi bất chính số tiền 600.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ 25 phút cùng ngày khi Lê Thị C đang bám dâm cho Nguyễn Văn L1 tại phòng số 202, Kha Thị S đang bán dâm cho Trần Ngọc H1 tại phòng số 204 nhà nghỉ G ở thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì bị Công an huyện L phối hợp với Công an xã T, huyện L bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
[4] Xét tính chất của vụ án: Vụ án này có 01 bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm tới chính sách phòng chống tệ nạn xã hội, trật tự an toàn xã hội, thuần phong mỹ tục của dân tộc và là tác nhân gây ra nhiều căn bệnh xã hội nguy hiểm.
Bị cáo Vi Văn P có hành vi môi giới mại dâm cho Lê Thị C và Kha Thị S nên hành vi của bị cáo P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, đối với bị cáo cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm minh để đảm bảo tính giáo dục đối với bị cáo và làm bài học ngăn ngừa chung.
[5] Xét về nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:
- - Về nhân thân: Bị cáo Vi Văn P có nhân thân tốt.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi xảy ra vụ việc, bị cáo đến cơ quan Công an để đầu thú. Do vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[6] Từ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, đồng thời cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian cần thiết mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người biết tuân thủ pháp luật, có ích cho gia đình và cộng đồng như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[7] Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo cho việc thi hành án, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo là phù hợp với Điều 329 của Bộ luật hình sự.
[8] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù là hình phạt chính, cần phạt tiền bị cáo Vi Văn P theo quy định tại khoản 4 Điều 328 của Bộ luật hình sự để tước một phần kinh tế của bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[9] Về vật chứng:
- + Đối với số tiền 600.000 đồng là tiền thu lợi bất chính liên quan đến hành vi mua bán dâm nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước là phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- + Đối với 02 bao cao su chưa sử dụng, 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 vỏ bao cao su là những tài sản không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
(Vật chứng của vụ án như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam).
[9] Các vấn đề khác:
- - Đối với Nguyễn Văn L1, Trần Ngọc H1 có hành vi mua dâm, Lê Thị C, Kha Thị S có hành vi bán dâm. Ngày 11/4/2025, Công an tỉnh B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L1, H1, C và Sánh theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận.
- - Đối với anh Nguyễn Tiến T1 và ông Đào Ngọc V, quá trình điều tra xác định anh T1, ông V không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của P nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo Vi Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về hình phạt:
Căn cứ điểm đ khoản 2, khoản 4 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.Xử phạt: Bị cáo Vi Văn P 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/01/2025.
Phạt bổ sung bị cáo P số tiền 10.000.000 đồng để sung vào công quỹ Nhà nước.
-
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 600.000 đồng.
+ Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su chưa sử dụng, 01 bao cao su đã qua sử dụng và 01 vỏ bao cao su.
(Vật chứng của vụ án như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam).
-
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.Buộc bị cáo Vi Văn P phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Nhẫn |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Hoàng H2- N |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị N |
Bản án số 57/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về hình sự - môi giới mại dâm
- Số bản án: 57/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi Văn Phong phạm tội Môi giới mại dâm
