Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LONG BIÊN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc


Bản án số: 57/2025/HS-ST

Ngày: 18/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Hồng Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

2- Ông Nguyễn Xuân Luyện

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Hà Minh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2025/TLST- HS ngày 26 tháng 2 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

- Vi Minh Q, sinh năm: 1998; đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Minh H và bà Vi Thị T ; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 10/12/2024, tạm giam từ ngày 19/12/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. “Có mặt”.

- Bị hại: Bà Lương Thị L, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số D, ngách E N, phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội. “Có mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Vi Minh H, sinh năm 1973; nơi cư trú: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. “Có mặt”.

2. Chị Vi Thị Minh T1, sinh năm 1996; nơi cư trú: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. “Có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 14h00 ngày 06/12/2024, bà Lương Thị L, sinh năm: 1982, HKTT: Tổ B, T, L, Hà Nội, chuyển phòng trọ tại số A ngõ H T, Tổ G, Đ, L, Hà Nội đến số D ngách E N, phường Đ, L, Hà Nội. Trong quá trình chuyển nhà, bà L có nhờ Vi Minh Q giúp chuyển đồ đạc trong nhà nên có đưa chìa khóa phòng trọ tại số A ngõ H T, Tổ G, Đ, L, Hà Nội để Quân chủ động mở cửa phòng trọ. Ngày 06/12/2024, khi Q điều khiển xe mô tô Honda Lead BKS 99E1-354.55 đến phòng trọ của bà L để giúp chuyển đồ, lúc này bà L không có ở phòng trọ. Tại phòng trọ, Q thấy bên trên két sắt ở phòng trọ có một con lợn gốm màu đỏ, kiểm tra phát hiện bên trong có tiền. Q đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đã lấy con lợn gốm đựng tiền tiết kiệm của bà L. Q để con lợn gốm vừa lấy trộm vào cốp xe mô tô Honda Lead BKS 99E1-354.55 và điều khiển xe bỏ đi. Khi di chuyển trên phố T, cách phòng trọ của bà L khoảng 1km thì Q dừng xe lại để đập vỡ con lợn gốm vừa trộm cắp được. Q kiểm đếm bên trong lợn gốm có số tiền 61.000.000 đồng, gồm có: 120 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 05 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, các tờ tiền mệnh giá nhỏ hơn Q không kiểm tra cụ thể nên không nhớ. Sau đó, Q di chuyển đến đầu ngõ C N, phường Đ, L, Hà Nội vứt bỏ mảnh vỡ của lợn gốm vào thùng phi ở đầu ngõ. Sau khi trộm cắp được tiền, Q đưa tiền mặt và nhờ anh Tạ Đức M (SN: 1996, HKTT: 548 B, phường C, quận H, Hà Nội) chuyển số tiền 3.000.000 đồng cho ông Vi Minh H (sinh năm: 1973, HKTT: Khu A, huyện T, tỉnh Phú Thọ) là bố đẻ của Q để nhờ mua rượu. Vào tối ngày 06/12/2024, Q đi một mình đến quán bar tại C M, phường H, quận H, Hà Nội để chơi và tiêu xài hết số tiền khoảng 30.000.000 đồng. Ngày 07/12/2024, Q đưa tiền mặt, nhờ anh Trần Đức G (SN: 1990, HKTT: Khối 2 P, S, Hà Nội) chuyển khoản số tiền 3.000.000 đồng cho chị gái là Vi Thị Minh T1 (SN: 1996; HKTT: Khu A, huyện T, tỉnh Phú Thọ) và Q chuyển tiếp cho chị T1 500.000 đồng từ CT nhanh 247 (số điện thoại 0946.326.xxx) để cho cháu. Số tiền còn lại Q tiêu xài cá nhân hết. Đến chiều ngày 09/12/2024, bà L về phòng trọ thì phát hiện bị mất trộm con lợn gốm màu đỏ bà L để tiền tiết kiệm nên đã đến Công an phường Đ để trình báo sự việc.

Sau khi tiếp nhận tố giác của bà Lương Thị L, Cơ quan Công an đã tiến hành triệu tập Vi Minh Q. Tại cơ quan Công an biết hành vi trộm cắp tài sản của mình đã bị phát hiện nên Q đã xin đầu thú, thành khẩn khai báo hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu ở trên. Qua dẫn giải, Q xác định lại được vị trí Q đã vứt bỏ mảnh vỡ của con lợn gốm tại đầu ngõ C N, phường Đ, L, Hà Nội, Cơ quan Công an đã tiến hành thu giữ được các mảnh vỡ này.

Quá trình dẫn giải Q đến xác định quán bar tại C M, phường H, quận H, Hà Nội, xác định vào tối ngày 06/12/2024 Q đã chi trả hóa đơn 9.702.000 đồng tại quán bar. Ngoài ra, tại quán bar Q đã đưa tiền tip cho nhiều người nhưng do uống rượu say Q không nhớ đã đưa cho ai. Q khai đã sử dụng hết số tiền khoảng 30.000.000 đồng tại quán bar.

Cơ quan CSĐT - Công an quận L đã tiến hành triệu tập ông Vi Minh H và chị Vi Thị Minh T1. Ông H và chị T1 khai vào ngày 06 và 7/12/2024 đã nhận được số tiền do Vi Minh Q chuyển khoản như nêu trên. Ông H và chị T1 không biết số tiền có nguồn gốc do Q trộm cắp được mà có. Ông H, chị T1 đã tự nguyện giao nộp số tiền cho 6.500.000 đồng cho Cơ quan Công an để phục vụ việc điều tra, xử lý.

Vật chứng thu giữ: Số tiền 6.500.000 đồng do ông Vi Minh H và chị Vi Thị Minh T1 giao nộp; các mảnh vỡ của con lợn gốm màu đỏ; 01 điện thoại nhãn hiệu BASIO đã qua sử dụng thu giữ của Q.

Tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKS-LB ngày 10/2/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo Vi Minh Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015:

Xử phạt:

Bị cáo Vi Minh Q từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/12/2024.

Về hình phạt bổ sung:

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về dân sự:

Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại số tiền bồi thường là 61.000.000 đồng. Xác nhận gia đình bị cáo đã nộp số tiền 61.000.000 đồng để trả cho bị hại.

Về vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy các mảnh vỡ của con lợn gốm; trả lại bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu BASIO.

Ý kiến của bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an quận L, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp;

[2]. Về hành vi của bị cáo:

Căn cứ lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; lời khai bị hại; người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Ngày 06/12/2024, tại phòng trọ tại số A ngõ H T, Tổ G, phường Đ, quận L, Hà Nội, Vi Minh Q có hành vi trộm cắp tài sản là số tiền 61.000.000 đồng để trong con lợn gốm màu đỏ của bà Lương Thị L. Vì vậy, bị cáo phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan Công an và tại phiên tòa bà Lương Thị L khai số tiền trong con lợn gốm màu đỏ bị mất trộm khoảng 150.000.000 đồng và chỉ có mình bà L biết. Bà L không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh; bị cáo xác định số tiền là 61.000.000 đồng; mặt khác Cơ quan tiến hành tố tụng đã làm hết trách nhiệm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nhưng không chứng minh được số tiền mà bị hại khai là 150.000.000 đồng nên không đủ căn cứ xác định số tiền bên trong con lợn gốm màu đỏ là 150.000.000 đồng như lời khai của bà L.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự, trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Gia đình bị cáo đã nộp số tiền mà bị cáo trộm cắp của bà L là 61.000.000 đồng (trong đó có số tiền 6.500.000 đồng mà bị cáo chuyển cho ông H và chị T1) để trả cho bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Từ những phân tích cần cách ly bị cáo một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ý thức chấp hành pháp luật đồng thời góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm nhất là tội phạm trộm cắp tài sản.

[3]. Về vật chứng:

Đối với số tiền 6.500.000 đồng do ông Vi Minh H và chị Vi Thị Minh T1 giao nộp là tiền do bị cáo trộm cắp nên trả lại bị hại; các mảnh vỡ của con lợn gốm màu đỏ không còn giá trị sử dụng, bị hại không yêu cầu gì nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại nhãn hiệu BASIO đã qua sử dụng thu giữ của Q không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo.

[4]. Về dân sự:

Tại phiên tòa bị hại và bị cáo đồng ý số tiền bồi thường là 61.000.000 đồng. Việc thỏa thuận này là tự nguyện, phù hợp với pháp luật nên cần chấp nhận. Xác nhận gia đình bị cáo đã giao nộp số tiền 61.000.000 đồng. Số tiền này sẽ trả cho bị hại.

[5]. Đối với vấn đề khác:

- Đối với anh Nguyễn Thanh T2 (SN: 1984, HKTT: Tổ 10 T, TP .. Hòa Bình): Anh T2 cho Q mượn chiếc xe mô tô Honda Lead BKS 99E1-354.55 sử dụng vào ngày 06/12/2024. Khi cho Q mượn xe, anh T2 chỉ biết là chuyển đồ cho chị L, anh T2 không biết và không được hưởng lợi gì từ hành vi trộm cắp tài sản của Q nên Cơ quan CSĐT - Công an quận L không đề cập xử lý;

- Đối với ông Vi Minh H và chị Vi Thị Minh T1: Ông H và chị T1 không biết số tiền Quân chuyển cho là tiền do Q phạm tội mà có. Sau khi biết số tiền do Q chuyển cho là tiền do Q phạm tội mà có nên ông H và chị T3 đã giao nộp lại số tiền này cho Cơ quan điều tra. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với ông Vi Minh H và chị Vi Thị Minh T1;

- Đối với anh Tạ Quang M1 và anh Trần Đức G: Anh M2 và anh G được Q đưa tiền mặt nhờ chuyển khoản tiền từ tài khoản Ngân hàng của mình đến tài khoản Ngân hàng của ông Vi Minh H và chị Vi Thị Minh T1. Anh M2 và anh G không biết số tiền chuyển giúp Q là tiền do Q phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Việc xử lý như trên của Cơ quan điều tra là có căn cứ pháp luật.

[6]. Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Vi Minh Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt:

Bị cáo Vi Minh Q 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/12/2024.

Về hình phạt bổ sung:

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy các mảnh vỡ của con lợn gốm màu đỏ; trả lại bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu BASIO đã qua sử dụng.

Vật chứng trên thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 21/2/2025 giữa Công an quận L với Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên.

Về dân sự:

Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo, bị hại. Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bà L số tiền 61.000.000 đồng, được trừ vào số tiền 6.500.000 đồng theo Giấy nộp tiền vào Ngân hàng B, ngày 21/02/2025 của Công an quận L (Nộp vào tài khoản số: 39490104858300000, đơn vị nhận tiền Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên và số tiền 54.500.000 đồng theo Giấy nộp tiền vào Ngân hàng B, ngày 21/02/2025 của ông Vi Minh H (Nộp vào tài khoản số: 39490104858300000, đơn vị nhận tiền Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên).

Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.050.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng là 3.250.000 đồng.

Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, những người tham gia tố tụng;
  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp Hà Nội;
  • - Công an, VKSND, THADS q:Long Biên;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hồng Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 57/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger