TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 57/2025/HS-ST Ngày: 16-4-2025. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Huế và bà Lê Thị Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2025/TLST-HS, ngày 28 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Văn M, tên gọi khác: Không, sinh ngày 28/12/1967; tại tỉnh Long An; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số nhà E L, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Xây dựng; con ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1945 và bà Phan Thị G, sinh năm 1948; vợ: Nguyễn Thị T sinh năm 1974; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất nhất 2005; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH X; địa chỉ trụ sở: số E T, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Đại diện hợp pháp: Anh Huỳnh Minh T1, sinh năm 1995, chức vụ: Giám đốc; địa chỉ: Số E L, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Công ty TNHH M1; địa chỉ trụ sở: số A L, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Đại diện hợp pháp: Ông Mai Đức H, sinh năm 1984, chức vụ: Giám đốc; địa chỉ: số A L, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Công ty TNHH X; địa chỉ trụ sở: Khu A, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Đại diện hợp pháp: bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1983, chức vụ: Giám đốc; địa chỉ: Khu A, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH X, mã số thuế 5801435643, địa chỉ trụ sở số E T, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, ngành nghề kinh doanh là xây dựng cầu đường, thương mại, vật tư, viễn thông, xây dựng dân dụng, người đại diện theo pháp luật là ông Huỳnh Minh T1, sinh năm 1995, thường trú tại số E L, Phường A, thành phố B, tuy nhiên người trực tiếp thực hiện việc điều hành, hoạt động kinh doanh, mua bán của công ty là Huỳnh Văn M (bố ruột của T1).
Thông qua các mối quan hệ kinh doanh từ năm 2015-2016, Huỳnh Văn M quen biết với một người tên Trương Vĩnh K ở Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2023, tại thành phố B, Huỳnh Văn M gặp một người quen của K và người này giới thiệu cho M số điện thoại của một người tên P ở Thành phố Hồ Chí Minh để liên kết hoạt động kinh doanh. Sau đó, Huỳnh Văn M chủ động liên hệ với P thì được P cho biết thông tin P quen với công ty TNHH X1 kinh doanh, bán vật tư xây dựng và hàng hóa có hóa đơn chứng từ theo quy định. Ngoài ra, P còn thỏa thuận với Huỳnh Văn M nếu Huỳnh Văn M cần hóa đơn GTGT cho hàng hóa của công ty TNHH X thì liên hệ với P để xuất hóa đơn GTGT trước nhằm mục đích hợp thức hóa nguồn gốc hàng hóa bán của công ty TNHH X, sau đó Huỳnh Văn M có thể mua vật tư xây dựng bên Phúc sau, tuy nhiên giữa P và M chưa thỏa thuận thống nhất về giá xuất hóa đơn GTGT.
Năm 2023, trong quá trình kiểm kê hàng hóa, quyết toán thuế hàng tháng thì Huỳnh Văn M phát hiện trong kho dự trữ hàng của công ty TNHH X có một số hàng hóa không có hóa đơn GTGT đầu vào nên để hợp thức hóa nguồn gốc của số hàng hóa này thì Huỳnh Văn M đã liên hệ với P và đề nghị P xuất 10 hóa đơn GTGT cho công ty TNHH X thì P đồng ý. Huỳnh Văn M cung cấp thông tin mặt hàng, giá trị hàng hóa cho P, sau đó P lập các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa công ty TNHH X1 và công ty TNHH X để hợp thức hóa thủ tục hồ sơ chứng từ rồi P giao cho Huỳnh Văn M hợp đồng cùng 10 hóa đơn GTGT (hóa đơn điện tử) do công ty TNHH X1 xuất cho công ty TNHH X gồm: số 34 ngày 28/6/2023, 36 ngày 29/6/2023, 37 ngày 29/6/2023, 40 ngày 30/6/2023, 43 ngày 30/6/2023, 48 ngày 01/7/2023, 87 ngày 12/7/2023, 145 ngày 02/8/2023, 323 ngày 25/9/2023, số 205 ngày 19/8/2023 với tổng giá trị hàng hóa trước thuế ghi trên hóa đơn là 4.656.880.000 đồng. Sau khi nhận 10 hóa đơn GTGT do công ty TNHH X1 xuất thì công ty TNHH X Huỳnh Phát Đ đã sử dụng để kê khai thuế.
Trong quá trình kinh doanh thì Huỳnh Văn M còn quen biết với ông Mai Đức H, sinh năm 1984, cư trú số A L, Phường B, thành phố B là người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH M1, mã số thuế: 5801302410, kinh doanh ngành nghề xây dựng, trụ sở ở số A L, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Giữa công ty TNHH M1 và công ty TNHH X có giao dịch mua bán hàng hóa là vật tư xây dựng mặt hàng cát, đá, gạch, phía công ty TNHH M1 yêu cầu công ty TNHH X phải xuất hóa đơn GTGT theo quy định. Tuy nhiên, do công ty X thiếu hóa đơn GTGT đầu vào đối với số hàng hóa bán cho công ty TNHH M1 nên Huỳnh Văn M đã liên hệ với P, cung cấp thông tin công ty và số tiền hàng hóa ghi trên hóa đơn để P xuất hóa đơn GTGT cho công ty TNHH M1. P lập hợp đồng mua bán hàng hóa giữa công ty TNHH X1 với công ty TNHH M1 rồi đưa cho Huỳnh Văn M để M giao cho phía công ty TNHH M1 ký nhằm mục đích hợp thức hóa chứng từ thanh toán, sau đó P giao cho Huỳnh Văn M 08 hóa đơn GTGT (hóa đơn điện tử) của công ty TNHH X1 xuất cho công ty TNHH M1 gồm: số 183 ngày 12/8/2023, 173 ngày 10/8/2023, 158 ngày 07/8/2023, 149 ngày 03/8/2023, 201 ngày 18/8/2023, 213 ngày 22/8/2023, 228 ngày 26/8/2023, 152 ngày 04/8/2023 với tổng giá trị hàng hóa trước thuế ghi trên hóa đơn là 2.099.000.000 đồng. Sau khi nhận được hóa đơn GTGT thì Huỳnh Văn M giao hóa đơn cho công ty TNHH M1, sau đó công ty TNHH M1 chuyển tiền hàng hóa cùng 10% thuế GTGT (ghi trên hóa đơn) cho công ty TNHH X1.
Khoảng tháng 02/2023, công ty TNHH M1 liên doanh với công ty TNHH X, mã số thuế: 5800967483, địa chỉ trụ sở ở khu A, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng tiến hành xây dựng công trình trường P1. Trong quá trình hợp tác kinh doanh thì công ty TNHH X nhờ ông Mai Đức H mua giúp vật tư xây dựng (cát, đá) để phục vụ việc xây dựng công trình. Ông Mai Đức H liên hệ với công ty TNHH X để mua vật tư xây dựng cho công ty TNHH X. Sau khi bán vật tư xây dựng cho công ty TNHH X, do thiếu hóa đơn GTGT đầu vào nên Huỳnh Văn M tiếp tục liên hệ với P, cung cấp thông tin về công ty và số tiền hàng hóa ghi trên hóa đơn để P xuất 01 hóa đơn GTGT (hóa đơn điện tử) của công ty TNHH X1 cho công ty TNHH X số 193 ngày 16/8/2023, với giá trị hàng hóa trước thuế là 174.993.000 đồng. Sau đó P giao hóa đơn GTGT cho Huỳnh Văn M rồi M giao cho ông H để ông H giao cho phía công ty TNHH X. Do nghi ngờ hóa đơn không hợp pháp nên công ty TNHH X không sử dụng để kê khai thuế.
Ngày 23/11/2023, Chi cục thuế khu vực B – B ban hành thông báo về việc cảnh báo doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro cao về hóa đơn: Trong thời gian từ quý 2 năm 2023 công ty X1 phát sinh doanh thu đột biến, công ty xuất hóa đơn với giá trị lớn cho các công ty trong và ngoài tỉnh, cụ thể mặt hàng kinh doanh ghi trên hóa đơn là cát xây, cát tô; Tra cứu trên hệ thống quản lý thuế và hóa đơn ghi nhận: về mua vào trên ứng dụng quản lý hóa đơn điện tử chỉ có hóa đơn dịch vụ của Ngân hàng, không có các mặt hàng kinh doanh về cát và dịch vụ tương ứng; về bán ra qua rà soát dữ liệu hóa đơn điện tử bán ra từ ngày 01/7/2022 đến ngày 14/11/2023 ghi nhận giữa dữ liệu xuất hóa đơn bán ra trên hệ thống và dữ liệu trên tờ khai thuế GTGT lệch nhau (cụ thể dữ liệu xuất hóa đơn bán ra trên hệ thống có khai báo nhưng dữ liệu trên tờ khai thuế GTGT thì không khai báo); Về tình hình kê khai nộp thuế: có sự chênh lệch hóa đơn bán ra giữa số liệu tờ khai thuế với hóa đơn điện tử. Kết quả phối hợp với chính quyền địa phương xác minh địa chỉ hoạt động của doanh nghiệp tính đến thời điểm 14/11/2023 xác định công ty không có trụ sở làm việc, không có kho bãi và văn phòng đại diện tại địa chỉ đã đăng ký kinh doanh. Chi cục thuế khu vực B – B có thông báo về việc người nộp thuế không còn hoạt động kinh doanh tại địa chỉ đã đăng ký.
Bản Cáo trạng số 61/CT-VKSBL, ngày 28 tháng 02 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc truy tố bị cáo Huỳnh Văn M về tội “Mua bán trái phép hoá đơn” theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn M phạm tội “Mua bán trái phép hoá đơn”. Áp dụng khoản 1 Điều 203, Điều 35 và điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn M từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- * Về xử lý vật chứng. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Cơ quan CSĐT – Công an thành phố B đã thu giữ 19 hóa đơn GTGT (hóa đơn điện tử) đã ghi nội dung của công ty TNHH X1 gồm 10 hóa đơn GTGT xuất cho TNHH xây dựng X, 08 hóa đơn GTGT xuất cho công ty TNHH M1, 01 hóa đơn GTGT xuất cho công ty TNHH X. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm được lưu hồ sơ vụ án.
- Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- + Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp gì với Kiểm sát viên.
- + Bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật,là sai trái do thiếu hiểu biết về pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Văn M đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản kết luận điều tra; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự qui định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.
- Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Huỳnh Văn M là người kinh doanh mặt hàng vật tư xây dựng. Trong quá trình kinh doanh do mua hàng hóa trôi nổi trên thị trường rồi bán lại cho các công ty, doanh nghiệp nên không có hóa đơn GTGT theo quy định. Huỳnh Văn M đã thực hiện hành vi liên hệ với một đối tượng tên P (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để xuất 19 hóa đơn GTGT (hóa đơn điện tử) có ghi nội dung do công ty TNHH X1 xuất cho 03 công ty gồm Công ty TNHH X, công ty TNHH M1, công ty TNHH X. Trong đó đối với Công ty TNHH X Huỳnh Phát Đ thì giữa P và M chưa thỏa thuận thống nhất về giá xuất hóa đơn, đối với Công ty TNHH M1 và Công ty TNHH X thì Huỳnh Văn M báo giá thuế GTGT là 10% giá trị hàng hóa trước thuế ghi trên hóa đơn, tuy nhiên M chưa được P chia lợi nhuận đối với số hóa đơn trên.
- Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép hoá đơn”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- [3] Về tính chất, mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là chế độ quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước, quy định của Nhà nước về quản lý tài chính tiền tệ, đồng thời xâm phạm đến hoạt động quản lý thu, chi ngân sách Nhà nước được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán hóa đơn trái phép bị phạm luật nghiêm cấm, nhưng với thái độ xem thường kỷ cương pháp luật nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng gây mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
- [4] Về nhân thân: Bị có nhân thân tốt.
- [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
- [6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- [7] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy: Không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà chỉ cần xử phạt bằng hình phạt tiền cũng đủ răn đe và phòng ngừa. Vì vậy, áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
- [8] Các vấn đề khác:
- Đối với hành vi Công ty TNHH X sử dụng 10 hóa đơn GTGT không hợp pháp do công ty TNHH X1 xuất để kê khai, quyết toán thuế, quá trình điều tra nhận thấy: Công ty TNHH X sử dụng 10 số hóa đơn trên để kê khai khấu trừ thuế từ tháng 6/2023 đến tháng 9/2023. Tuy nhiên, khi nhận được thông báo về rủi ro thuế của Chi cục thuế khu vực B – Bảo Lâm và Cục thuế tỉnh L thì Công ty đã chủ động loại trừ 10 hóa đơn trên và kê khai bổ sung tờ khai thuế GTGT nên hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội Trốn thuế.
- Đối với Công ty TNHH M1 và Công ty TNHH X. Quá trình điều tra nhận thấy: thực tế 02 Công ty này có trao đổi thỏa thuận mua bán vật tư xây dựng với Công ty TNHH X và được Huỳnh Văn M cung cấp hóa đơn GTGT của Công ty TNHH X1, bản thân 02 Công ty này không trao đổi mua bán hàng hóa với Công ty TNHH X1, không thỏa thuận mua bán hóa đơn không hợp pháp của Công ty TNHH X1 nên việc cơ quan CSĐT Công an thành phố B không xử lý về hành vi mua bán trái phép hóa đơn là có căn cứ và đúng quy định pháp luật. Công ty TNHH M1 có sử dụng 08 hóa đơn GTGT do Công ty TNHH X1 xuất để kê khai quyết toán thuế Quý 3/2023, tuy nhiên Công ty đã thực hiện điều chỉnh giảm trên tờ khai thuế GTGT quý 3/2023 (tờ khai bổ sung) nên hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn thuế”.
- Đối với hành vi mua bán trái phép hóa đơn của Công ty TNHH X1. Quá trình điều tra chưa đủ căn cứ để chứng minh hành vi phạm tội nên việc Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục xác minh, khi có căn cứ thì sẽ xử lý sau.
- [9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Cơ quan CSĐT – Công an thành phố B đã thu giữ 19 hóa đơn GTGT (hóa đơn điện tử) đã ghi nội dung của công ty TNHH X1 gồm 10 hóa đơn GTGT xuất cho TNHH xây dựng X, 08 hóa đơn GTGT xuất cho công ty TNHH M1, 01 hóa đơn GTGT xuất cho công ty TNHH X. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm được lưu hồ sơ vụ án.
- [10] Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử là có căn cứ chấp nhận.
- [11] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn M phạm tội “Mua bán trái phép hoá đơn”. Áp dụng khoản 1 Điều 203; Điều 35 và điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn M 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về ...án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Văn M phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Công |
Bản án số 57/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự (sơ thẩm) - mua bán trái phép hoá đơn
- Số bản án: 57/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sơ thẩm) - Mua bán trái phép hoá đơn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: M mua bán hòa đơn
