TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2025/HS-ST Ngày 13 tháng 6 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Phạm Tuấn Anh |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Phạm Bích Thái |
| Bà Nguyễn Thu Hằng | |
| - Thư ký phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: | Ông Phạm Khắc Việt - Kiểm sát viên. |
Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/ QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Đức H, sinh ngày 12/8/1990; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố: Nguyễn Đức H1, sinh năm: 1967; Mẹ đẻ: Bùi Thị T, sinh năm: 1966; Vợ: Nguyễn Minh T1, sinh năm: 1992; Con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang tại ngoại tại xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội;
- Đinh Công H2, sinh ngày 14/4/2000; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm L, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố: Đinh Công C, sinh năm 1976; Mẹ: Trịnh Thị T2, sinh năm: 1979; Vợ: Nguyễn Thị Á, sinh năm 2000; Con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang tại ngoại tại xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình;
- Nguyễn Quỳnh T3, sinh ngày 10/4/1993; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu P, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;Trình độ học vấn: 12/12;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố: Nguyễn Khánh T4 (đã chết); Mẹ: Trương Thị H3, sinh năm: 1973; Chồng: Nguyễn Đình T5, sinh năm: 1990; Con: Có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024 đến ngày 30/8/2024 áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Nguyễn Nam K, sinh ngày 25/10/1995; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu P, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố: Nguyễn Khánh T4 (đã chết); Mẹ: Trương Thị H3, sinh năm: 1973; Vợ: Trần Thu H4, sinh năm: 2004; Con: Có 01 con sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/01/2013, bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ pháo. Chấp hành xong ngày 29/01/2013; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024 đến ngày 30/8/2024 áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Nguyễn Văn G, sinh ngày 07/7/1991; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: khu T, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 12/12;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố: Nguyễn Văn L, sinh năm 1964; Mẹ: Trương Thị H5, sinh năm: 1967; Vợ: Phan Kim Q, sinh năm: 1992; Con: Có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024 đến ngày 30/8/2024 áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Hoàng Thị H6, sinh năm 2006, trú tại: khu L, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Mai Ánh T6, sinh năm 1993, trú tại: khu T, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Lưu Thị H7, sinh năm 2003, trú tại: khu P, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Tạ Thị Thu T7, sinh năm 2001, trú tại: khu B, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Vũ Hồng B, sinh năm 2000, trú tại: khu G, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Nguyễn Thị Thu H8, sinh năm 1991, trú tại: khu C, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Trần Thị S, sinh năm 1991, trú tại: P, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Bùi Thị Thu H9, sinh năm 2000, trú tại: khu H, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Hà Thị C1, sinh năm 1997, trú tại: khu T, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Nguyễn Thị Kim X, sinh năm 1996, trú tại: khu A, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Nguyễn Thị T8, sinh năm 1987, trú tại: khu Á, xã H, Đ, Phú Thọ;
- Chị Nguyễn Thị Thu H10, sinh năm 1991, trú tại: khu H, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Nguyễn Thu H11, sinh năm 1991, trú tại: khu T, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Nguyễn Thị Thu T9, sinh năm 2005, trú tại: Khu A, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Đinh Thị Ngọc Á1, sinh năm 1987, trú tại: P, xã T, huyện Đ, Phú Thọ;
- Chị Nguyễn Thị H12, sinh năm 1996, trú tại: xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Đặng Thùy L1, sinh năm 2004, trú tại: khu G, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1987, trú tại: khu Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Lương Thị T10, sinh năm 1999, trú tại: khu M, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Sầm Thị Thu T11, sinh năm 1997, trú tại: khu D, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Lâm Kim N, sinh năm 2003, trú tại: khu Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Nguyễn Thị H13, sinh năm 1996, trú tại: D, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Nguyễn Thị H14, sinh năm 2006, trú tại: V, xã P, huyện Đ, Phú Thọ;
- Chị Lê Hồng T24, sinh năm 2003, trú tại: thôn H, xã T, huyện Đ, Phú Thọ;
- Chị Nguyễn Thị Ánh H15, sinh năm 1998, trú tại: thôn T, xã T, huyện Đ, Phú Thọ;
- Chị Nguyễn Thị Thu H16, sinh năm 2002, trú tại: thôn H, xã T, huyện Đ, Phú Thọ;
- Chị Nguyễn Ngọc T12, sinh năm 1991, trú tại: thôn V, xã T, huyện Đ, Phú Thọ;
- Chị Đỗ Thị Kiều T13, sinh năm 2006, trú tại: thôn V, xã P, huyện Đ, Phú Thọ;
- Chị Phạm Thị T14, sinh năm 1998, trú tại: xóm M, xã H, huyện Đ, Phú Thọ;
- Chị Bùi Thảo T15, sinh năm 1998, trú tại: khu T, xã T, huyện Đ, Phú Thọ;
- Chị Nguyễn Thị H13, sinh năm 1994, trú tại: khu D, xã C, huyện Đ, Phú Thọ;
- Chị Hứa Thu T16, sinh năm 1992, trú tại: thôn H, xã T, huyện Đ, Phú Thọ;
- Chị Trần Hoài T17, sinh năm 2001, trú tại: thôn T, xã T, huyện Đ, Phú Thọ;
- Chị Lê Minh T18, sinh năm 2000, trú tại: thôn H, xã T, huyện Đ, Phú Thọ;
- Chị Đỗ Lan A, sinh năm 2001, trú tại: thôn D, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Mai Thanh H17, sinh năm 2001, trú tại: khu E, xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Lê Diệu T19, sinh năm 1993, trú tại: thôn C, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Đới Thị Hồng T20, sinh năm 2001, trú tại: khu E, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Nguyễn Thị U, sinh năm 2002, trú tại: khu Á, xã H, huyện Đ, Phú Thọ;
- Chị Đỗ Phương T21, sinh năm 1993, trú tại: khu P, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Phùng Minh N1, sinh năm 1992, trú tại: khu D, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Cao Thị H18, sinh năm 1990, trú tại: khu Á, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
- Chị Nguyễn Thị Kim N2, sinh năm 1987, trú tại: khu P, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
(Các bị cáo đều có mặt, những người tham gia tố tụng khác đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2022, Nguyễn Đức H, sinh năm 1990, trú tại: xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội và Đinh Công H2, sinh năm 2000, trú tại: xã N, huyện Y, thành phố H cùng nhau thành lập Công ty TNHH G1 - HUB CONTACT CENTER kinh doanh trên nhiều lĩnh vực. Khoảng tháng 6/2024, H và H2 quen biết Đặng Hoàng Liên A1, sinh năm 1996, trú tại: 2 đường C, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh, hiện ở: số nhà E, đường N, khu dân cư T, khu phố A, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh, Liên A1 tự giới thiệu mình là nhân viên Công ty TNHH S1, có địa chỉ tại 65-67, L, phường T, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình quen biết, Liên A1 đặt vấn đề để H và H2 thu thập trái phép dữ liệu cá nhân của người khác gồm thông tin về tên tuổi, số điện thoại thường sử dụng, thu nhập hàng tháng, tài khoản zalo sau đó bán lại cho Liên A1 với giá 120.000 đồng/01 thông tin cá nhân (gọi là data), H và H2 đồng ý.
Do có quen biết từ trước với Nguyễn Quỳnh T3, sinh năm 1993, trú tại: khu P, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ là Giám đốc Công ty TNHH G2 có địa chỉ tại: khu Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ hoạt động kinh doanh tư vấn du lịch, vận tải, viễn thông và biết T3 có nhiều nhân viên nên H và H2 đã liên hệ để T3 thu thập trái phép thông tin riêng cá nhân của người khác rồi bán lại cho H và H2 với giá 72.000 đồng/ 01 data, T3 đồng ý. Để giúp T3 thuận lợi trong việc thu thập trái phép thông tin cá nhân, H và H2 cung cấp cho T3 ứng dụng CALIO để quản lý cuộc gọi, theo dõi tiến độ từng ngày, doanh số của từng nhân viên trong công ty. Khi Liên A1 cung cấp danh sách số điện thoại kèm theo các kịch bản là thông tin các cuộc hội thảo về tài chính, chứng khoán..., H và H2 sẽ đăng tải lên ứng dụng Calio. Sau đó T3 giao cho nhân viên sử dụng ứng dụng CALIO gọi điện đến từng người và đề nghị cung cấp thông tin cá nhân riêng là tên tuổi, số điện thoại thường sử dụng, nghề nghiệp, thu nhập hàng tháng, số điện thoại đăng ký tài khoản zalo, các cuộc gọi đều được ghi âm và kiểm tra lại. Khi thu thập được đầy đủ các trường thông tin nêu trên của một người thì coi đó là một “data” rồi nhân viên đẩy “data” vừa thu thập được lên ứng dụng “CALIO” để T3 cập nhật rồi chuyển cho H và H2.
Bắt đầu từ ngày 10/7/2024, T3 yêu cầu nhân viên chuyển nội dung kinh doanh từ việc tư vấn du lịch sang gọi điện theo danh sách các số điện thoại có sẵn do T3 đẩy lên trên ứng dụng CALIO để thu thập trái phép thông tin dữ liệu cá nhân. T3 ấn định thời gian làm việc 8 giờ/ngày, nếu tăng ca vào buổi trưa, buổi tối hàng ngày thì mức thưởng là: từ 1 - 3 C (tức từ 1 đến 3 data) được 90.000 đồng; từ 3 - 5 Conver (tức từ 3 đến 5 data) được 120.000 đồng. Sau khi thu thập được thông tin, T3 đẩy lên hệ thống phần mềm “CALIO” để H, H2 tự kiểm tra và xác nhận làm căn cứ thanh toán tiền.
Để giúp mình theo dõi, quản lý số nhân viên và doanh số thông qua ứng dụng CALIO, T3 thuê em trai là Nguyễn Nam K, sinh năm 1995, trú tại: khu P, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ cùng anh họ là Nguyễn Văn G, sinh năm 1991, trú tại: khu T, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, T3 trả cho K và G mỗi người 10.000.000 đồng/ 01 tháng. Ngoài ra, T3 còn mượn tài khoản 03801012871849 của ngân hàng M của K để nhận tiền bán dữ liệu cá nhân từ H, H2. Để thuận lợi cho việc quản lý công việc, T3 lập 04 nhóm Z gồm: “Telesale nghiệp vụ - không chém gió” để thông báo các thông tin làm việc hàng ngày; nhóm “hỏi đáp ánh dương” để nhân viên cần giải đáp nội dung gì thì trả lời; nhóm “Chém gió” để thông báo kết quả làm việc tăng ca và nhóm “Số thứ tự” để thông báo cho nhân viên biết số data cần phải thu thêm trong ngày.
Trong thời gian từ ngày 10/7/2024 đến 19/8/2024, T3 đã thu thập trái phép và chuyển cho H2, H 10.733 data, sau đó H2 và H đã chuyển số data này cho Liên A1. Thông qua công ty T25, Liên A1 đã thanh toán cho H2, H số tiền 1.287.960.000 đồng vào tài khoản ngân hàng T26 số 19036182202016 của Nguyễn Thị Á, sinh năm 2000, trú tại: xã L, huyện N, tỉnh Ninh Bình, là bạn gái của H2. Sau đó Á chuyển số tiền này vào tài khoản ngân hàng V số [...] của Nguyễn Minh T1, sinh năm 1991, trú tại: xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội, là vợ của H để H chuyển trả cho Nguyễn Quỳnh T3, H đã chuyển cho T3 số tiền 772.776.000 đồng là tiền mua 10.733 data. Số tiền còn lại là 515.1840.000 đồng, H và H2 mỗi người được hưởng 257.592.000 đồng. Sau khi nhận tiền, T3 trả lương cho nhân viên hết 425.728.000 đồng, trả cho K và G mỗi người 10.000.000 đồng, còn lại T3 được hưởng số tiền 327.048.000 đồng.
Ngày 19/8/2024, thấy việc làm của Nguyễn Quỳnh T3 có dấu hiệu vi phạm pháp luật nên Nguyễn Thị Kim X, sinh năm: 1996, trú tại: khu A xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, là nhân viên trong Công ty đã có đơn tố giác gửi Cơ quan điều tra, Công an tỉnh P. Ngày 20/8/2024, Cơ quan điều tra, Công an tỉnh P đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi làm việc của Nguyễn Quỳnh T3 và phát hiện 45 nhân viên đang làm việc gồm các chị: Nguyễn Quỳnh T3; Hoàng Thị H6; Mai Ánh T6; Lưu Thị H7; Tạ Thị Thu T7; Vũ Hồng B; Nguyễn Thị Thu H8; Trần Thị S; Bùi Thị Thu H9; Hà Thị C1; Nguyễn Thị Kim X; Nguyễn Thị T8; Nguyễn Thị Thu H10; Nguyễn Thu H11; Nguyễn Thị Thu T9; Đinh Thị Ngọc Á1; Nguyễn Thị H12; Đặng Thùy L1;Nguyễn Thị D; Lương Thị T10; Sầm Thị Thu T11;Lâm Kim N;Nguyễn Thị H13; Nguyễn Thị H14;Lê Hồng T24; Nguyễn Thị Ánh H15; Nguyễn Thị Thu H16; Nguyễn Ngọc T12; Đỗ Thị Kiều T13; Phạm Thị T14; Bùi Thảo T15; Nguyễn Thị H13; Hứa Thu T16; Trần Hoài T17; Lê Minh T18; Đỗ Lan A; Mai Thanh H17; Lê Diệu T19; Đới Thị Hồng T20; Nguyễn Thị U; Đỗ Phương T21; Phùng Minh N1; Cao Thị H18; Nguyễn Thị Kim N2; Nguyễn Văn G. Quá trình khám xét thu giữ 03 bộ máy tính để bàn, 16 máy tính xách tay, 61 điện thoại di động và 38 quyển sổ.
Quá trình điều tra Nguyễn Nam K giao nộp 01 điện thoại di động, Nguyễn Đức H giao nộp 01 điện thoại di động, Đinh Công H2 giao nộp 01 điện thoại di động và 01 máy tính xách tay.
Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với một số công dân đã bị Nguyễn Quỳnh T3 thu thập trái phép thông tin riêng cá nhân. Kết quả tất cả những công dân này đều không biết việc T3 thu thập trái phép thông tin cá nhân của mình để bán cho người khác thu lời bất chính như đã nêu trên.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Đức H, Đinh Công H2, Nguyễn Quỳnh T3, Nguyễn Nam K, Nguyễn Văn G đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đối với Đặng Hoàng Liên A1, là người mua dữ liệu thông tin cá nhân của H2 và H, Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập, xác minh nhưng Liên A1 không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra đã tách hồ sơ thụ lý theo trình tự tố giác, tin báo về tội phạm để tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý (Quyết định số 3301 ngày 01/5/2025).
Đối với Nguyễn Thị Á, là người sử dụng tài khoản ngân hàng của mình để nhận số tiền 1.287.960.000 đồng Liên A1 chuyển cho H2, sau đó Á chuyển số tiền này vào tài khoản của Nguyễn Minh T1. Tuy nhiên Á không biết H2 thực hiện hành vi phạm tội và không được hưởng lợi gì nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với Nguyễn Minh T1, là người sử dụng tài khoản của mình để nhận số tiền 1.287.960.000 đồng do H2 chuyển cho H, sau đó T1 chuyển số tiền 772.776.000 đồng vào tài khoản của Nguyễn Nam K. Tuy nhiên T1 không biết H thực hiện hành vi phạm tội và không được hưởng lợi gì nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với Bùi Bảo T22, Đỗ Thị Kiều T13, Hoàng Thị H6 và Nguyễn Thị Kim X, quá trình điều tra xác định những người này mới đến Công ty TNHH G2 làm việc, không biết và không được hưởng lợi gì từ hành vi phạm tội của T13 và đồng phạm nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với những nhân viên thu thập trái phép thông tin cá nhân của người khác và đã được T13 trả lương gồm: Mai Ánh T6: 9.885.000 đồng, Lưu Thị H7: 9.225.000 đồng, Tạ Thị Thu T7: 11.810.000 đồng, Vũ Hồng B: 10.075.000 đồng, Nguyễn Thị Thu H8: 11.085.000 đồng, Trần Thị S: 10.305.000 đồng, Bùi Thị Thu H9: 10.385.000 đồng, Hà Thị C1: 11.265.000 đồng, Nguyễn Thị T8: 9.740.000 đồng, Nguyễn Thị Thu H10: 16.230.000 đồng, Nguyễn Thu H11: 15.140.000 đồng, Nguyễn Thị Thu T9: 11.085.000 đồng, Đinh Thị Ngọc Á1: 15.734.000 đồng, Nguyễn Thị H12: 4.745.000 đồng, Nguyễn Thị D: 12.075.000 đồng, Lương Thị T10: 10.480.000 đồng, Sầm Thị Thu T11: 11.175.000 đồng, Nguyễn Thị H13, SN 1996: 13.635.000 đồng, Lê Hồng T24: 13.360.000 đồng, Nguyễn Thị Thu H16: 10.805.000 đồng, Nguyễn Ngọc T12: 11.150.000 đồng, Phạm Thị T14: 11.315.000 đồng, Nguyễn Thị H13, SN 1994: 15.415.000 đồng, Hứa Thu T16: 13.670.000 đồng, Trần Hoài T17: 12.635.000 đồng, Đỗ Lan A: 10.340.000 đồng, Mai Thanh H17: 11.135.000 đồng, Lê Diệu T19: 11.455.000 đồng, Đới Thị Hồng T20: 12.720.000 đồng, Nguyễn Thị U: 10.040.000 đồng, Đỗ Phương T21:400.000 đồng, Phùng Minh N1: 13.395.000 đồng, Cao Thị H18: 10.220.000 đồng, Nguyễn Thị Kim N2: 11.830.000 đồng, Nguyễn Thị H14: 4.300.000 đồng; Lâm Kim N: 10.925.000 đồng, Nguyễn Thị Ánh H15: 14.270.000 đồng, Đặng Thùy L1: 10.850.000 đồng, Lê Minh T18: 5.910.000 đồng. Tuy nhiên những người này không biết việc T16 thu thập thông tin để bán thông tin cá nhân cho H16 và H2 nên Cơ quan điều tra đã chuyển Công an tỉnh P ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính.
Quá trình điều tra, Nguyễn Quỳnh T3 tự nguyện giao nộp số tiền 300.000.000 đồng; Nguyễn Nam K nộp 10.000.000 đồng; Nguyễn Văn G nộp 10.000.000 đồng; Lâm Kim N nộp 10.925.000 đồng; Nguyễn Thị Ánh H15 nộp 14.270.000 đồng; Đặng Thùy L1 nộp 11.050.000 đồng; Lê Minh T18 nộp 5.910.000 đồng; Bùi Thị Thu H9 nộp 10.385.000 đồng.
Cáo trạng số 37/CT-VKSPT-P2, ngày 02/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố:
Nguyễn Đức H, Đinh Công H2, Nguyễn Quỳnh T3, Nguyễn Nam K, Nguyễn Văn G về tội “Đưa hoặc sử dụng trái phép mạng máy tính, mạng viễn thông” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 288 Bộ luật Hình sự (BLHS);
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và thể hiện thái độ ăn năn hối cải.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ vẫn giữ quan điểm truy tố và đề nghị:
Tuyên bố: Nguyễn Đức H, Đinh Công H2, Nguyễn Quỳnh T3, Nguyễn Nam K, Nguyễn Văn G về tội “Đưa hoặc sử dụng trái phép mạng máy tính, mạng viễn thông”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 288 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H từ 27 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 tháng đến 60 tháng.
Xử phạt bị cáo Đinh Công H2 từ 27 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 tháng đến 60 tháng.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 288 BLHS; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G từ 24 tháng đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 54 tháng.
Thời hạn thử thách đối với các bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đức H, Đinh Công H2, Nguyễn Văn G cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 288 BLHS; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 BLHS.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quỳnh T3 từ 230.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Nam K từ 200.000.000 đồng đến 220.000.000 đồng.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Áp dụng Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Đề nghị xử lý vật chứng:
Tịch thu số tiền 372.340.000 đồng (gồm Nguyễn Quỳnh T3 số tiền 300.000.000 đồng; Nguyễn Nam K 10.000.000 đồng; Nguyễn Văn G 10.000.000 đồng; Lâm Kim N 10.925.000 đồng; Nguyễn Thị Ánh H15 14.270.000 đồng; Đặng Thùy L1 10.850.000 đồng; Lê Minh T18 5.910.000 đồng; Bùi Thị Thu H9 10.385.000 đồng).
Tịch thu bán sung quỹ nhà nước những tài sản đều liên quan đến việc thu thập trái phép và mua bán thông tin dữ liệu cá nhân gồm:
- - Thu giữ của Nguyễn Quỳnh T3: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xanh đen, số Imei: 356303480099397; 01 bộ máy vi tính màu đen, đã cũ (01 màn hình nhãn hiệu VSP, 01 cây máy tính, 01 bàn phím và 01 chuột); 01 bộ máy vi tính nhãn hiệu VSP màu đen, số ID: 8B63FE39-036E-441F-B08C-1E6025858040; 01 cây máy tính, 01 bàn phím và 01 chuột), đã cũ; 01 bộ máy tính để bàn gồm (01 màn hình nhãn hiệu DELL màu đen; 01 cây máy tính CASE màu đen nhãn hiệu VSP; 01 bàn phím và 01 chuột), bộ máy tính đã cũ.
- - Thu giữ của Nguyễn Văn G: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS màu đen; số Imei 356737082155901; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL màu đen, seri: 34686068222, máy tính đã cũ.
- - Thu giữ của Nguyễn Nam K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oneplus 11 5G, Imei 1: 860053066227875; Imei 2: 860053066227867, điện thoại cũ;
- - Thu giữ của Nguyễn Đức H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone XS Max, Imei: 353103101939879, điện thoại đã cũ;
- - Thu giữ của Đinh Công H2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, I: 358034168158845, điện thoại đã cũ và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Air, số sê ri: BCGA 2337, máy đã cũ.
Tịch thu tiêu hủy 05 sim gắn trong 05 điện thoại thu giữ của các bị cáo.
Trả lại tài sản cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không liên quan đến tội phạm gồm danh sách vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 09/6/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Tịch thu các quyển sổ ghi chép của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để lưu hồ sơ vụ án.
Sung quỹ nhà nước số tiền 320.000.000 đồng (gồm có Nguyễn Quỳnh T3 nộp 300.000.000 đồng, Nguyễn Nam K nộp 10.000.000 đồng, Nguyễn Văn G nộp 10.000.000 đồng).
Sung quỹ nhà nước số tiền do Lâm Kim N tự nguyện nộp 10.925.000 đồng, Nguyễn Thị Ánh H15 tự nguyện nộp 14.270.000 đồng, Đặng Thùy L1 tự nguyện nộp 10.850.000 đồng, Lê Minh T18 tự nguyện nộp 5.910.000 đồng, Bùi Thị Thu H9 tự nguyện nộp 10.385.000 đồng.
Trả lại cho Đặng Thùy L1 số tiền 200.000 đồng tự nguyện nộp án phí.
Truy thu của T3 số tiền 22.562.000 đồng do phạm tội mà có.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các Bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Các Bị cáo không tranh luận về tội danh cũng như bào chữa về phần hình phạt, xử lý vật chứng.
Các Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để được cải tạo sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trình bày rõ nội dung, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS).
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[2] Trong khoảng thời gian từ ngày 10/7/2024 đến ngày 19/8/2024, tại địa bàn huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Quỳnh T3 đã thuê 43 nhân viên, sử dụng ứng dụng Calio gọi điện để thu thập trái phép 10.733 thông tin dữ liệu cá nhân sau đó bán cho Nguyễn Đức H và Đinh Công H2 thu lời bất chính số tiền 772.776.000 đồng. Sau khi trả tiền lương cho nhân viên, T3 được hưởng lợi số tiền 322.562.000 đồng. Nguyễn Nam K và Nguyễn Văn G giúp sức cho Nguyễn Quỳnh T3 trong việc quản lý, cài đặt, hướng dẫn nhân viên sử dụng ứng dụng Calio, N3 và K mỗi người đã được hưởng lợi 10.000.000 đồng. Do vậy Nguyễn Quỳnh T3 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 288 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Nam K và Nguyễn Văn G đồng phạm với Nguyễn Quỳnh T3 với vai trò giúp sức.
[3] Sau khi mua thông tin giữ liệu cá nhân của Nguyễn Quỳnh T3, thì Nguyễn Đức H và Đinh Công H2 bán lại cho Đặng Hoàng Liên A1, thu số tiền 1.287.960.000 đồng. H và H2 được hưởng lợi bất chính số tiền 515.184.000 đồng (mỗi người 257.592.000 đồng). Do vậy, Nguyễn Đức H và Đinh Công H2 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 288 Bộ luật Hình sự.
[4] Sự khai nhận của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, biên bản khám xét, lời khai của các bị cáo trong vụ án tại Cơ quan CSĐT và lời khai của các bị cáo tại phiên toàn hoàn toàn phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện tội phạm. Do vậy có đủ cơ sở để kết luận hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố về tội “Đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 288 Bộ luật Hình sự;
Điều 288. Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 hoặc gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) ....;
c) Mua bán, .... thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:.
c) T23 lợi bất chính từ 200.000.000 đồng trở lên;
"....".
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
[5] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, các bị cáo đã vi phạm quy định của Nhà nước về khai thác sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, làm lộ các thông tin bí mật cá nhân khi chưa được người chủ thông tin đó đồng ý. Vì vậy phải được xử lý theo pháp luật để giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội hiện nay.
[6] Xét nhân thân các bị cáo thấy rằng:
[6.1] Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự, và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6.2] Cả 5 bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[6.3] Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Quỳnh T3 và Nguyễn Nam K có bố đẻ là bệnh binh; T3 tích cực ủng hộ phòng chống bão lũ; K tích cực ủng hộ quỹ xoá nhà tạm xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, tham gia hiến máu nhân đạo. Nguyễn Văn G tích cực tham gia hiến máu nhân đạo, bác ruột bị cáo là liệt sĩ do gia đình bị cáo thờ cúng; Đinh Công H2 tích cực ủng hộ Hội chữ thập đỏ huyện Y, tỉnh Hòa Bình; Nguyễn Đức H tích cực ủng hộ đồng bào lũ lụt tại UBMTTQ huyện G, quỹ người nghèo huyện G, tham gia hiến máu nhân đạo. Do vậy cả 5 bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
[6.4] Các bị cáo G, T3, K đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS.
[7] Sau khi cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị H, H2 và Giang cáo có nhân thân tốt. Do vậy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội. Các bị cáo có nơi cư trú ổn định, do vậy cần xử bị cáo mức hình phạt thích hợp tù nhưng cho cải tạo ngoài xã hội, để bị cáo được lao động có sự giám sát của gia đình và xã hội.
[8] Đối với bị cáo T3 là chủ doanh nghiệp, K là em trai giúp sức với vai trò đồng phạm. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, mức phạt của T3 sẽ cao hơn K. Do vậy áp dụng phạt tiền là hình phạt chính ở mức đầu khung hình phạt đối với K và trên đầu khung đối với bị cáo T3 cũng đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[9] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 Điều 288 BLHS có quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định các bị cáo Nguyễn Nam K, Nguyễn Văn G, Đinh Công H2 không có tài sản gì ngoài những đồ dùng sinh hoạt thiết yếu do vậy không phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
[10] Về xử lý vật chứng vụ án: Quá trình điều tra thu giữ gồm: Nguyễn Quỳnh T3 số tiền 300.000.000 đồng; Nguyễn Nam K 10.000.000 đồng; Nguyễn Văn G 10.000.000 đồng; Lâm Kim N 10.925.000 đồng; Nguyễn Thị Ánh H15 14.270.000 đồng; Đặng Thùy L1 10.850.000 đồng; Lê Minh T18 5.910.000 đồng; Bùi Thị Thu H9 10.385.000 đồng. Tổng cộng số tiền 372.340.000 đồng.
[10.1] Đối với số tiền do T3, K, G tự nguyện nộp trước khi xét xử để khắc phục hậu quả, đây là số tiền do các bị cáo phạm tội và hưởng lợi khi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Vì T3 hưởng lợi khi phạm tội tổng số tiền 322.562.000 đồng. T3 đã tự nguyện nộp số tiền 300.000.000 đồng. Nay cần truy thu của T3 số tiền 22.562.000 đồng do phạm tội mà có.
[10.2] Đối với số tiền do N, H15, L1, T18, H9 đã tự nguyện nộp trước khi xét xử, đây là số tiền công do T3 trả lương và hưởng lợi khi T3 phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với tiền công, tiền lương mà T3 đã chuyển khoản trả cho những người làm thuê mà họ không biết được công việc làm thuê cho T3 là vi phạm pháp luật, do vậy không truy thu đối với họ số tiền lương, tiền công này.
Vì qúa trình điều tra Đặng Thùy L1 tự nguyện nộp 11.050.000 đồng, đã thu sung công quỹ 10.850.000 đồng. Số tiền còn lại 200.000 đồng do L1 tự nguyện nộp án phí, do L1 không phải chịu nên được trả lại.
[10.3] Đối với những tài sản đều liên quan đến việc phạm tội thu thập trái phép và mua bán thông tin dữ liệu cá nhân, cần tịch thu sung bán quỹ nhà nước gồm:
- - Thu giữ của Nguyễn Quỳnh T3: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xanh đen, số Imei: 356303480099397; 01 bộ máy vi tính nhãn hiệu VSP màu đen; 01 bộ máy vi tính nhãn hiệu VSP màu đen, số ID: 8B63FE39-036E-441F-B08C-1E6025858040;
- - Thu giữ của Nguyễn Văn G: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS màu đen; số Imei 356737082155901; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL màu đen.
- - Thu giữ của Nguyễn Đức H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone;
- - Thu giữ của Đinh Công H2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Promax và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Air.
- - Thu giữ của Nguyễn Nam K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oneplus;
[10.4] Đối với 05 sim gắn trong 05 điện thoại thu giữ của các bị cáo, sim nay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[10.5] Đối với tài sản cá nhân của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng, nhưng không biết việc thu thập thông tin đó là trái phép, do vậy không liên quan đến tội phạm, nên cần trả lại cho họ.
[10.6] Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã bị Phòng C2 Công an tỉnh P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
[11] Quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[12] Đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng điều luật, hình phạt, cũng như xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử tại phiên tòa nên được chấp nhận.
[13] Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 288 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS.
Tuyên bố: Nguyễn Đức H, Đinh Công H2, Nguyễn Quỳnh T3, Nguyễn Nam K, Nguyễn Văn G về tội “Đưa hoặc sử dụng trái phép mạng máy tính, mạng viễn thông”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 27 (Hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 (Năm mươi tư) tháng.
Xử phạt bị cáo Đinh Công H2 27 (Hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 (Năm mươi tư) tháng.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 288 BLHS; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng.
Thời hạn thử thách đối với các bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đức H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Đinh Công H2 cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Văn G cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 288 BLHS; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 BLHS.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quỳnh T3 số tiền 230.000.000₫ (Hai trăm ba mươi triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Nam K số tiền 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng).
Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của BLTTHS.
Xử lý vật chứng:
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 372.340.000đ (Ba trăm bảy mươi hai triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng) gồm: Nguyễn Quỳnh T3 số tiền 300.000.000 đồng; Nguyễn Nam K 10.000.000 đồng; Nguyễn Văn G 10.000.000 đồng; Lâm Kim N 10.925.000 đồng; Nguyễn Thị Ánh H15 14.270.000 đồng; Đặng Thùy L1 10.850.000 đồng; Lê Minh T18 5.910.000 đồng; Bùi Thị Thu H9 10.385.000 đồng.
Trả lại cho Đặng Thùy L1 số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Truy thu của T3 để nộp ngân sách nhà nước số tiền 22.562.000đ (Hai mươi hai triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn đồng).
Tịch thu bán sung quỹ nhà nước những tài sản gồm:
- - Thu giữ của Nguyễn Quỳnh T3: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xanh đen, lắp sim sim số 0876.608.385: Số I: 356303480099397, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 bộ máy vi tính để bàn gồm (01 màn hình nhãn hiệu VSP màu đen; 01 cây máy tính; 01 bàn phím và 01 chuột), bộ máy tính đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 bộ máy vi tính gồm (01 màn hình nhãn hiệu VSP màu đen, số ID: 8B63FE39-036E-441F-B08C-1E6025858040; 01 cây máy tính; 01 bàn phím và 01 chuột), bộ máy tính đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 bộ máy tính để bàn gồm (01 màn hình nhãn hiệu DELL màu đen; 01 cây máy tính CASE màu đen nhãn hiệu VSP; 01 bàn phím và 01 chuột), bộ máy tính đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Thu giữ của Nguyễn Văn G: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS màu đen, gắn sim số 0392478696; Imei: 356737082155901, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL, màu đen. Seri: 34686068222, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Thu giữ của Nguyễn Nam K: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oneplus 11 5G, kèm 01 sim trong máy, Imei 1: 860053066227875; Imei 2: 860053066227867, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Thu giữ Nguyễn Đức H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, kèm 01 sim trong máy, I: 353103101939879, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Thu giữ Đinh Công H2: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu MacBook. Air, số sê ri: BCGA 2337, máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax kèm 01 sim trong máy, I: 358034168158845, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Tịch thu tiêu hủy 05 sim gắn trong 05 điện thoại thu giữ của các bị cáo.
Trả lại tài sản cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không liên quan đến tội phạm gồm danh sách vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 09/6/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Tịch thu các quyển sổ ghi chép của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để lưu hồ sơ vụ án.
Sung quỹ nhà nước số tiền 320.000.000 đồng (gồm có Nguyễn Quỳnh T3 nộp 300.000.000 đồng, Nguyễn Nam K nộp 10.000.000 đồng, Nguyễn Văn G nộp 10.000.000 đồng).
Sung quỹ nhà nước số tiền do Lâm Kim N tự nguyện nộp 10.925.000 đồng, Nguyễn Thị Ánh H15 tự nguyện nộp 14.270.000 đồng, Đặng Thùy L1 tự nguyện nộp 10.850.000 đồng, Lê Minh T18 tự nguyện nộp 5.910.000 đồng, Bùi Thị Thu H9 tự nguyện nộp 10.385.000 đồng.
Trả lại cho Đặng Thùy L1 số tiền 200.000 đồng tự nguyện nộp án phí.
Truy thu của T3 số tiền 22.562.000 đồng do phạm tội mà có.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các Bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Các Bị cáo không tranh luận về tội danh cũng như bào chữa về phần hình phạt, xử lý vật chứng.
Các Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để được cải tạo sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trình bày rõ nội dung, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS).
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[2] Trong khoảng thời gian từ ngày 10/7/2024 đến ngày 19/8/2024, tại địa bàn huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Quỳnh T3 đã thuê 43 nhân viên, sử dụng ứng dụng Calio gọi điện để thu thập trái phép 10.733 thông tin dữ liệu cá nhân sau đó bán cho Nguyễn Đức H và Đinh Công H2 thu lời bất chính số tiền 772.776.000 đồng. Sau khi trả tiền lương cho nhân viên, T3 được hưởng lợi số tiền 322.562.000 đồng. Nguyễn Nam K và Nguyễn Văn G giúp sức cho Nguyễn Quỳnh T3 trong việc quản lý, cài đặt, hướng dẫn nhân viên sử dụng ứng dụng Calio, N3 và K mỗi người đã được hưởng lợi 10.000.000 đồng. Do vậy Nguyễn Quỳnh T3 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 288 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Nam K và Nguyễn Văn G đồng phạm với Nguyễn Quỳnh T3 với vai trò giúp sức.
[3] Sau khi mua thông tin giữ liệu cá nhân của Nguyễn Quỳnh T3, thì Nguyễn Đức H và Đinh Công H2 bán lại cho Đặng Hoàng Liên A1, thu số tiền 1.287.960.000 đồng. H và H2 được hưởng lợi bất chính số tiền 515.184.000 đồng (mỗi người 257.592.000 đồng). Do vậy, Nguyễn Đức H và Đinh Công H2 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 288 Bộ luật Hình sự.
[4] Sự khai nhận của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, biên bản khám xét, lời khai của các bị cáo trong vụ án tại Cơ quan CSĐT và lời khai của các bị cáo tại phiên toàn hoàn toàn phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện tội phạm. Do vậy có đủ cơ sở để kết luận hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố về tội “Đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 288 Bộ luật Hình sự;
Điều 288. Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 hoặc gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) ....;
c) Mua bán, .... thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:.
c) T23 lợi bất chính từ 200.000.000 đồng trở lên;
"....".
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
[5] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, các bị cáo đã vi phạm quy định của Nhà nước về khai thác sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, làm lộ các thông tin bí mật cá nhân khi chưa được người chủ thông tin đó đồng ý. Vì vậy phải được xử lý theo pháp luật để giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội hiện nay.
[6] Xét nhân thân các bị cáo thấy rằng:
[6.1] Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự, và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6.2] Cả 5 bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[6.3] Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Quỳnh T3 và Nguyễn Nam K có bố đẻ là bệnh binh; T3 tích cực ủng hộ phòng chống bão lũ; K tích cực ủng hộ quỹ xoá nhà tạm xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, tham gia hiến máu nhân đạo. Nguyễn Văn G tích cực tham gia hiến máu nhân đạo, bác ruột bị cáo là liệt sĩ do gia đình bị cáo thờ cúng; Đinh Công H2 tích cực ủng hộ Hội chữ thập đỏ huyện Y, tỉnh Hòa Bình; Nguyễn Đức H tích cực ủng hộ đồng bào lũ lụt tại UBMTTQ huyện G, quỹ người nghèo huyện G, tham gia hiến máu nhân đạo. Do vậy cả 5 bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
[6.4] Các bị cáo G, T3, K đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS.
[7] Sau khi cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị H, H2 và Giang cáo có nhân thân tốt. Do vậy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội. Các bị cáo có nơi cư trú ổn định, do vậy cần xử bị cáo mức hình phạt thích hợp tù nhưng cho cải tạo ngoài xã hội, để bị cáo được lao động có sự giám sát của gia đình và xã hội.
[8] Đối với bị cáo T3 là chủ doanh nghiệp, K là em trai giúp sức với vai trò đồng phạm. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, mức phạt của T3 sẽ cao hơn K. Do vậy áp dụng phạt tiền là hình phạt chính ở mức đầu khung hình phạt đối với K và trên đầu khung đối với bị cáo T3 cũng đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[9] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 Điều 288 BLHS có quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định các bị cáo Nguyễn Nam K, Nguyễn Văn G, Đinh Công H2 không có tài sản gì ngoài những đồ dùng sinh hoạt thiết yếu do vậy không phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
[10] Về xử lý vật chứng vụ án: Quá trình điều tra thu giữ gồm: Nguyễn Quỳnh T3 số tiền 300.000.000 đồng; Nguyễn Nam K 10.000.000 đồng; Nguyễn Văn G 10.000.000 đồng; Lâm Kim N 10.925.000 đồng; Nguyễn Thị Ánh H15 14.270.000 đồng; Đặng Thùy L1 10.850.000 đồng; Lê Minh T18 5.910.000 đồng; Bùi Thị Thu H9 10.385.000 đồng. Tổng cộng số tiền 372.340.000 đồng.
[10.1] Đối với số tiền do T3, K, G tự nguyện nộp trước khi xét xử để khắc phục hậu quả, đây là số tiền do các bị cáo phạm tội và hưởng lợi khi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Vì T3 hưởng lợi khi phạm tội tổng số tiền 322.562.000 đồng. T3 đã tự nguyện nộp số tiền 300.000.000 đồng. Nay cần truy thu của T3 số tiền 22.562.000 đồng do phạm tội mà có.
[10.2] Đối với số tiền do N, H15, L1, T18, H9 đã tự nguyện nộp trước khi xét xử, đây là số tiền công do T3 trả lương và hưởng lợi khi T3 phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với tiền công, tiền lương mà T3 đã chuyển khoản trả cho những người làm thuê mà họ không biết được công việc làm thuê cho T3 là vi phạm pháp luật, do vậy không truy thu đối với họ số tiền lương, tiền công này.
Vì qúa trình điều tra Đặng Thùy L1 tự nguyện nộp 11.050.000 đồng, đã thu sung công quỹ 10.850.000 đồng. Số tiền còn lại 200.000 đồng do L1 tự nguyện nộp án phí, do L1 không phải chịu nên được trả lại.
[10.3] Đối với những tài sản đều liên quan đến việc phạm tội thu thập trái phép và mua bán thông tin dữ liệu cá nhân, cần tịch thu sung bán quỹ nhà nước gồm:
- - Thu giữ của Nguyễn Quỳnh T3: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xanh đen, số Imei: 356303480099397; 01 bộ máy vi tính nhãn hiệu VSP màu đen; 01 bộ máy vi tính nhãn hiệu VSP màu đen, số ID: 8B63FE39-036E-441F-B08C-1E6025858040;
- - Thu giữ của Nguyễn Văn G: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS màu đen; số Imei 356737082155901; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL màu đen.
- - Thu giữ của Nguyễn Đức H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone;
- - Thu giữ của Đinh Công H2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Promax và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Air.
- - Thu giữ của Nguyễn Nam K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oneplus;
[10.4] Đối với 05 sim gắn trong 05 điện thoại thu giữ của các bị cáo, sim nay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[10.5] Đối với tài sản cá nhân của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng, nhưng không biết việc thu thập thông tin đó là trái phép, do vậy không liên quan đến tội phạm, nên cần trả lại cho họ.
[10.6] Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã bị Phòng C2 Công an tỉnh P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
[11] Quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[12] Đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng điều luật, hình phạt, cũng như xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử tại phiên tòa nên được chấp nhận.
[13] Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 288 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS.
Tuyên bố: Nguyễn Đức H, Đinh Công H2, Nguyễn Quỳnh T3, Nguyễn Nam K, Nguyễn Văn G về tội “Đưa hoặc sử dụng trái phép mạng máy tính, mạng viễn thông”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 27 (Hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 (Năm mươi tư) tháng.
Xử phạt bị cáo Đinh Công H2 27 (Hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 (Năm mươi tư) tháng.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 288 BLHS; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng.
Thời hạn thử thách đối với các bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đức H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Đinh Công H2 cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Văn G cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 288 BLHS; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 BLHS.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quỳnh T3 số tiền 230.000.000₫ (Hai trăm ba mươi triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Nam K số tiền 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng).
Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của BLTTHS.
Xử lý vật chứng:
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 372.340.000đ (Ba trăm bảy mươi hai triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng) gồm: Nguyễn Quỳnh T3 số tiền 300.000.000 đồng; Nguyễn Nam K 10.000.000 đồng; Nguyễn Văn G 10.000.000 đồng; Lâm Kim N 10.925.000 đồng; Nguyễn Thị Ánh H15 14.270.000 đồng; Đặng Thùy L1 10.850.000 đồng; Lê Minh T18 5.910.000 đồng; Bùi Thị Thu H9 10.385.000 đồng.
Trả lại cho Đặng Thùy L1 số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Truy thu của T3 để nộp ngân sách nhà nước số tiền 22.562.000đ (Hai mươi hai triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn đồng).
Tịch thu bán sung quỹ nhà nước những tài sản gồm:
- - Thu giữ của Nguyễn Quỳnh T3: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xanh đen, lắp sim sim số 0876.608.385: Số I: 356303480099397, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 bộ máy vi tính để bàn gồm (01 màn hình nhãn hiệu VSP màu đen; 01 cây máy tính; 01 bàn phím và 01 chuột), bộ máy tính đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 bộ máy vi tính gồm (01 màn hình nhãn hiệu VSP màu đen, số ID: 8B63FE39-036E-441F-B08C-1E6025858040; 01 cây máy tính; 01 bàn phím và 01 chuột), bộ máy tính đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 bộ máy tính để bàn gồm (01 màn hình nhãn hiệu DELL màu đen; 01 cây máy tính CASE màu đen nhãn hiệu VSP; 01 bàn phím và 01 chuột), bộ máy tính đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Thu giữ của Nguyễn Văn G: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS màu đen, gắn sim số 0392478696; Imei: 356737082155901, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL, màu đen. Seri: 34686068222, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Thu giữ của Nguyễn Nam K: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oneplus 11 5G, kèm 01 sim trong máy, Imei 1: 860053066227875; Imei 2: 860053066227867, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Thu giữ Nguyễn Đức H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, kèm 01 sim trong máy, I: 353103101939879, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Thu giữ Đinh Công H2: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu MacBook. Air, số sê ri: BCGA 2337, máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax kèm 01 sim trong máy, I: 358034168158845, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Tịch thu tiêu hủy 05 sim gắn trong 05 điện thoại thu giữ của các bị cáo.
Trả lại tài sản cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm:
- - Chị Hoàng Thị H6: 01 điện thoại di động nhãn hiệu readmi 10, lắp sim số: 0979.374.321; Imei 1: 869389052099824; Imei 2: 869389052099832, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, màn hình điện thoại bị vỡ.
- - Chị Mai Ánh T6: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A77S, màu xanh lắp sim số 0916.845.903; Imei 1: 866996066576473; Imei 2: 866996066576465, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J2 Pro màu vàng (không lắp sim). Imei 1: 351902100432329; Imei 2: 351903100432327, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Lưu Thị H7: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Plus, màu hồng, lắp sim số 0334.881.256. Imei: 357519534130404, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại di động Iphone XS Max, màu vàng (không lắp sim). Imei: 357290090390937, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chi Tạ Thị Thu T7: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, lắp sim số 0394.682.864. Imei: 352845110058643, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, màn hình điện thoại bị vỡ.
- - Chị Vũ Hồng B: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, lắp sim số 0985.829.219. Imei: 35673608 033373 4, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Nguyễn Thị Thu H8: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7, màu xanh lắp sim số 0376.052.858; Imei 1: 864267043544279; Imei 2: 864267043544261, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, máy không lên nguồn nên không kiểm tra được số Imei; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO 8T, màu đen lắp sim số 0968.378.532; Imei 1: 863126062181499; Imei 2: 863126062181481, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 laptop HP màu bạc Seri: 5CD221FJJJ, máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Trần Thị S: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, lắp sim số 0961.361.191; Imei: 356117096583341, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, máy không lên nguồn nên không kiểm tra được số I.
- - Chị Bùi Thị Thu H9: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, lắp sim số 0374.422.719; Imei: 356724117944772, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 chiếc máy tính (laptop) nhãn hiệu Dell, màu đen; không có seri, máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Hà Thị C1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, lắp sim 0331.424.750; Imei: 355735077843953, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, lắp sim số 0967.133.687; Imei: 351037750904291, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Nguyễn Thị Kim X: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A60, màu đen, lắp sim số 0856.991.096; Imei 1: 867993074203959; Imei 2: 867993074203942, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Nguyễn Thị T8: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14 (Không lắp sim); Imei 1: 357865262667145; Imei 2: 358164362667141, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Readmi 13C, lắp sim số: 0346.954.638; Imei 1: 868329062529205; Imei 2: 868329062529213, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Nguyễn Thị Thu H10: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11Promax, lắp sim số 0349.921.505; Imei: 353900103969535, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20+, lắp sim số: 0335.127.507; Imei: 355362111689175, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, màn hình có nhiều kẻ sọc; 01 máy tính Fujitsu màu trắng; Số seri: R2Y06143, máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Nguyễn Thu H11: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, lắp sim số 0349.758.407; Imei: 865570053636052, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 máy vi tính (Laptop) nhãn hiệu Lenovo màu đen, Số seri: R9-02A9YB14/06, máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Nguyễn Thị Thu T9: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus màu trắng, lắp sim số 0355.640.521; Imei: 356712083685081, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 máy tính nhãn hiệu Dell màu đen, máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Đinh Thị Ngọc Á1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu trắng, lắp sim số 0844.124.336; Imei: 351330881174508, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 máy tính bảng nhãn hiệu Galaxy Tab A7 lite màu đen, Imel: 359638223784269, máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Nguyễn Thị H12: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 6 Z 5G, màu bạc, lắp sim số 0975.363.420; Imei 1: 869904053221514; Imei 2: 869904053221506, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 máy tính nhãn hiệu Dell màu đen, Seri: 6BYH433, máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Đặng Thùy L1:01 điện thoại di động Vivo V2110, lắp sim số 0344. 980.765. Imei 1: 861128056254672; Imei 2: 861128056254664, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Lương Thị T10: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng, lắp sim số 0327.740.180; Imei: 353136100501456, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 máy tính Dell, màu đen; (không có sêri), máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Sầm Thị Thu T11: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax, màu đen, lắp sim số 0348.357.460. Imei: 357263093610643, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Lâm Kim N: 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xám, lắp sim số 0383.629.085; Imei: 353888104541934, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 máy tính dell màu đen, Seri: 4PYWCL2, máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Nguyễn Thị H13 - SN 1996: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu trắng hồng, lắp sim số 0328.344.181. Imei: 354989074628369, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13, màu đen (không lắp sim), Imei 1: 869398076069663; Imei 1: 869398076069671, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Nguyễn Thị H14: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VSMART màu xám, gắn sim số: 0865451045; Imei 1: 354581111406956; Imei 2: 354581111406964, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, màn hình điện thoại bị vỡ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI A1 màu xanh, không gắn sim. Imei 1: 861524062325425; Imei 2: 861524062325433, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Lê Thị Hồng T24: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XSMAX màu vàng, gắn sim số 0375686088; Imei: 353099104691709, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Nguyễn Thị Ánh H15: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 13 PROMAX màu vàng, gắn sim số 0969920598; Imei: 353287211829946, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Nguyễn Thị Thu H16: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 PROMAX màu ghi xám, gắn sim số [...]; Imei: 352871472160942, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, máy không lên nguồn nên không kiểm tra được số Imei; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL màu đen, mặt lưng có ghi số 58X6RF2, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Nguyễn Ngọc T12: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS màu trắng, gắn sim số 0876233338; Imei: 356708087862221, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu đỏ, có gắn sim số 0378431942; Imei 1: 866376042473196; Imei 2: 866376042473188, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Đỗ Thị Kiều T13: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11, không gắn sim; Imei: 353980104580051; Imei 2: 353980104522749, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X, gắn sim số 0347.024.xxx. Imei: 35487409 2739366, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Phạm Thị T14: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 Plus màu vàng, gắn sim số 0334287996; Imei: 35 671508 960513 6, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A10S màu xanh, không gắn sim; Imei 1: 354723113050800; Imei 2: 354724113050808, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Bùi Thảo T15: 01 điện thoại di động nhãn hiệu XIAOMI REDMI 10, gắn sim số 0359419857. Imei 1: 867469057154949; Imei 2: 867469057154956, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, phần mắt cam bị nứt vỡ.
- - Chị Nguyễn Thị H13 1994: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu xanh, gắn sim số 0866571869; Imei 1: 864091048357184; Imei 2: 864091048357192, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1906 màu đỏ, màn hình bị vỡ, không gắn sim; Imei 1: 865635046107915; Imei 2: 865635046107907, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Hứa Thu T16: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS màu đỏ, gắn sim số 0338576668. Imei: 354837092776971, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, máy không lên nguồn nên không kiểm tra được số I.
- - Chị Trần Hoài T17: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XSMAX màu vàng, gắn sim số 0345236150; Imei: 357260090582452, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Lê Minh T18: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, có số IMEI: 356574103209122, gắn sim số 0966994891, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL, màu đen. Seri: 1H9WHM3, máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Đỗ Lan A: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax màu vàng, gắn sim: 0364.936.910; Imeil: 357264093961978, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 máy tính nhãn hiệu Dell E5470, màu đen, Seri: 28034037038, máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05S (không gắn sim); Imei 1: 358520507460215; Imeil 2: 359421817460210, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Mai Thanh H17: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax, gắn sim: 0384.385.431; Imei 1: 35 310710 592959 6; I: 35 310710 589844 5, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 máy tính nhãn hiệu Dell màu đen. Seri: CFMVB82, máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Lê Diệu T19: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 Pro, lắp sim: 0344.837.005; Imei 1: 864182042439290; Imei 2: 864182042439282, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Đới Thị Hồng T20: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, lắp sim số: 0978.523.972. Imei 1: 352469851826488; Imei 2: 357132371826488, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO (Không gắn sim): Imei 1: 860551040571714; Imei 2: 860551040571706, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, nắp lưng bị vỡ; 01 máy vi tính (laptop) nhãn hiệu Toshiba, màu đen; Seri: 3165NGW, máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, lắp sim số 0352.883.969. Imei: 358034161695397, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Nguyễn Thị U: 01 máy tính (laptop) nhãn hiệu Asus, màu xanh; Seri: AMPAK/AP6234A, máy đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, lắp sim 0965.739.438. Imei: 353894108249854, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Đỗ Phương T21: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C35, màu đen (không lắp sim), Imei 1: 864751066778310; Imei 2: 864751066778302, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Phùng Minh N1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, lắp sim số 0337.355.773 và 0962.796.262.; Imei 1: 353220821242788; Imei 2: 353319901242781, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Cao Thị H18: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 Promax, lắp sim 0347.792.612; Imei: 353891105111319, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Nguyễn Thị Kim N2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V20, lắp sim số 0989.725.031; Imei 1: 680856059518195; Imei 2: 680856059518187, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Chị Nguyễn Thị D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, màu đen, lắp sim sô 0532. 411.920. Imei 1: 869874049744855; Imei 2: 869874049744848, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, lắp sim số 0975. 515.645. Imei: 353266547217364, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Vật chứng đang được tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ theo biên bản giao nhận ngày 09/6/2025.
Tịch thu các quyển sổ lưu hồ sơ vụ án: Chị Hoàng Thị H6: 01 sổ tay màu đen; Chị Mai Ánh T6: 01 Quyển sổ màu xanh; Chị Lưu Thị H7:01 Quyển sổ màu trắng bìa ghi chữ H7; Chị Tạ Thị Thu T7: 01 quyển sổ; Chị Nguyễn Thị Thu H8: 01 sổ ghi chép màu hồng; 01 sổ ghi chép màu trắng; Chị Trần Thị S: 02 quyển sổ (01 sổ màu vàng; 01 sổ ô ly); Chị Bùi Thị Thu H9: 01 sổ ghi chép màu trắng; Chị Hà Thị C1: 01 sổ ghi chép màu xanh; Chị Nguyễn Thị Kim X: 01 sổ ghi chép màu xanh; Chị Nguyễn Thị T8: 02 sổ ghi chép (01 sổ màu đen và 01 sổ ô ly); Chị Nguyễn Thị Thu H10: 01 quyển sổ ghi chép; Chị Nguyễn Thu H11:01 quyển sổ ghi chép; Chị Nguyễn Thị Thu T9:01 quyển sổ ghi chép; Chị Đinh Thị Ngọc Á1:01 quyển sổ; Chị Nguyễn Thị H12: 02 quyển sổ ghi chép; Chị Đặng Thùy L1:01 sổ ghi chép; Chị Lương Thị T10: 01 sổ ghi chép; Chị Sầm Thị Thu T11:01 sổ ghi chép; Chị Lâm Kim N: 01 sổ ghi chép; Chị Nguyễn Thị H13, SN 1996: 01 sổ ghi chép; Chị Nguyễn Thị H14: 01 sổ lò xo có chữ MASK LIFE. Chị Lê Thị Hồng T24: 01 sổ tay ghi chép; Chị Nguyễn Thị Ánh H15:01 quyển sổ tay lò xo A5 có chữ OCEAN; Chị Nguyễn Thị Thu H16: 01 sổ tay A6 có chữ PANDA; Chị Nguyễn Ngọc T12: 01 sổ tay có chữ PLAY NICE DAY. Chị Phạm Thị T14: 01 sổ tay có ghi chữ và số; Chị Nguyễn Thị H13: 01 một sổ tay ghi nhiều chữ và số; Chị Trần Hoài T17:01 sổ tay màu đen có chữ BK 6002; Chị Lê Minh T18:01 sổ tay ghi nhiều chữ và số; Chị Đỗ Lan A: 01 tờ giấy ô vuông nhãn hiệu Hồ N; Chị Mai Thanh H17: 01 quyển sổ ghi chép màu đen; Chị Lê Diệu T19: 02 tờ giấy ô vuông nhãn hiệu Hồng Hà; 01 quyển sổ ghi chép nhãn hiệu Hồng Hà; Chị Đới Thị Hồng T20: 01 quyển sổ tay màu tím; Chị Nguyễn Thị U: 01 quyển sổ ghi chép; Chị Đỗ Phương T21:01 quyển sổ ghi chép (vở học sinh); Chị Phùng Minh N1: 01 quyển sổ ghi chép; Chị Cao Thị H18: 01 quyển sổ ghi chép cá nhân; Chị Nguyễn Thị Kim N2: 01 quyển sổ ghi chép (vở học sinh); Chị Nguyễn Thị D: 02 quyển sổ ghi chép.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Nguyễn Đức H, Đinh Công H2, Nguyễn Quỳnh T3, Nguyễn Nam K, Nguyễn Văn G mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuấn Anh |
Bản án số 57/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về đưa hoặc sử dụng trái phép mạng máy tính, mạng viễn thông
- Số bản án: 57/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đưa hoặc sử dụng trái phép mạng máy tính, mạng viễn thông
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ ngày 10/7/2024 đến ngày 19/8/2024, tại địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Quỳnh Trang đã thuê 43 nhân viên, sử dụng ứng dụng Calio gọi điện để thu thập trái phép 10.733 thông tin dữ liệu cá nhân sau đó bán cho Nguyễn Đức Hiền và Đinh Công Hiếu thu lời bất chính số tiền 772.776.000 đồng. Sau khi trả tiền lương cho nhân viên, Trang được hưởng lợi số tiền 322.562.000 đồng. Nguyễn Nam Khánh và Nguyễn Văn Giang giúp sức cho Nguyễn Quỳnh Trang trong việc quản lý, cài đặt, hướng dẫn nhân viên sử dụng ứng dụng Calio, Nam và Khánh mỗi người đã được hưởng lợi 10.000.000 đồng. Do vậy Nguyễn Quỳnh Trang phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 288 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Nam Khánh và Nguyễn Văn Giang đồng phạm với Nguyễn Quỳnh Trang với vai trò giúp sức.
