Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2025/HS-ST

Ngày 10 - 6 - 2025

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Thảo

Ông Trần Trung Nam

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Ngô Mạnh Lân - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Đức H (tên gọi khác: Win L), sinh ngày 13 tháng 7 năm 1994 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: K N, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức C (đã chết) và bà Đặng Thị Kim L1 (còn sống); chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • Ngày 28/9/2021, bị Công an phường N (nay là Công an phường P), quận H, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền (750.000 đồng) về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. (Đã thi hành xong vào ngày 28/9/2021).
  • Ngày 22/4/2025 bị Ủy ban nhân dân phường T Đông ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền (1.500.000 đồng) về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt ngày 24/01/2025, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T – Trại tạm giam Công an thành phố Đ. (Có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại: Bà Phạm Hồ Nam P, sinh ngày: 20/3/2007; Nơi cư trú: K L, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • 1/ Bà Đặng Thị Kim L1, sinh năm 1964; Nơi cư trú: K N, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)
  • 2/ Ông Nguyễn B, sinh năm 1932; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; (Vắng mặt)

* Người làm chứng:

  • 1/ Bà Nguyễn Thị Hoàng A, sinh ngày 01/02/2007; Nơi cư trú: K N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
  • 2/ Ông Nguyễn Hồng Q, sinh năm 2003; Nơi cư trú: 2 L, Phường C, quận T, Thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 23/01/2025, Bùi Đức H đến cửa hàng D số B T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng ngồi chơi ở máy cuối, hàng thứ 2 tại tầng 3. Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, chị Phạm Hồ Nam P và chị Nguyễn Thị Hoàng A đến thuê máy tính sử dụng và ngồi cùng hàng ghế với H. Tại đây, H quan sát thấy chị P nhiều lần lấy tiền ra từ túi xách và để túi xách trên bàn máy tính nơi chị P ngồi nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt.

Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, H đi xuống dắt xe mô tô BKS 92NA-000.97 dựng ở lòng đường Trần Cao V, đoạn trước cửa hàng dịch vụ internet nhằm mục đích sau khi chiếm đoạt xong nhanh chóng tẩu thoát. Sau đó, H mang theo 01 áo mưa đến nơi chị P và chị A ngồi, tung áo mưa về phía trước mặt của chị P và chị A nhằm phân tán sự chú ý, rồi giật lấy túi xách của chị P đang để trên bàn máy tính, và bỏ chạy xuống lầu đến vị trí dựng xe và lên xe tẩu thoát.

Sau khi lấy được tài sản, H đến bờ hồ Đ kiểm tra bên trong thì thấy có số tiền 1.250.000 đồng và một số vật dụng cụ trang điểm. H lấy số tiền trên và cất túi xách cùng dụng cụ trang điểm tại thùng rác gần bờ hồ đường H (không thu hồi được). H đã tiêu xài hết 220.000 đồng, còn lại 1.030.000 đồng H đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T. Tại cơ quan Công an, Bùi Đức H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

* Vật chứng tạm giữ:

  • 01 (một) xe mô tô ETS màu đen - đỏ sậm, BKS 92NA-000.97, số máy 48YX1P39FMB001472, số khung CB2UM8XT01472 do ông Nguyễn B đứng tên chủ sở hữu.
  • 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh – trắng có chữ G, 01 (một) mũ màu đen có khoét nhiều lỗ trên thân mũ (loại mũ xe đạp), 01 (một) áo khoác màu xám, 01 (một) áo thun màu trắng kem có viền cổ màu đỏ đậm, 01 (một) quần lửng vải màu trắng, 01(một) áo mưa tiện lợi có chất liệu ni lông trong suốt có hoa văn màu hồng.
  • Số tiền 1.030.000 đồng tạm giữ của Bùi Đức H.
  • 01 đĩa DVD bên trong có chứa 03 đoạn video chứa hình ảnh liên quan đến việc H cướp giật tài sản, cụ thể: 01 đoạn video bên trong quán ghi nhận hình ảnh của N thanh niên đang ngồi chơi game vào lúc 13h55' 29 giây ngày 23/01/2025 và 02 đoạn video ghi nhận hình ảnh nam thanh niên đi vào cướp giật tài sản và đi ra ngoài lên xe mô tô bỏ đi.

Tại bản Cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 08/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Bùi Đức Hiển về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Bùi Đức H, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Đức H mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.

Về xử lý vật chứng:

  • Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD bên trong có chứa 03 đoạn video chứa hình ảnh liên quan đến việc H cướp giật tài sản.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh – trắng có chữ G, 01 (một) mũ màu đen có khoét nhiều lỗ trên thân mũ (loại mũ xe đạp), 01 (một) áo khoác màu xám, 01 (một) áo thun màu trắng kem có viền cổ màu đỏ đậm, 01 (một) quần lửng vải màu trắng, 01(một) áo mưa tiện lợi có chất liệu ni lông trong suốt có hoa văn màu hồng thu giữ của bị cáo do bị cáo không nhận lại và không có giá trị sử dụng.
  • Đối với 01 (một) xe mô tô ETS màu đen - đỏ sậm, BKS: 92NA-000.97, số máy 48YX1P39FMB001472, số khung CB2UM8XT01472: do ông Nguyễn B đứng tên chủ sở hữu. Bà Đặng Thị Kim L1 đã mua lại xe này vào năm 2018, bị cáo H lấy xe đi thực hiện hành vi cướp giật tài sản bà L1 không biết nên cần trả lại cho bà L1.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Đức H thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đã truy tố là đúng. Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo một hình phạt nhẹ để bị cáo sớm trở về, lao động phụ giúp gia đình, trở thành một công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều hợp pháp, đúng quy định.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 23/01/2025, tại cửa hàng D số B T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng, Bùi Đức H đã có hành vi giật lấy 01 túi xách bên trong có số tiền 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) cùng một số dụng cụ trang điểm của chị Phạm Hồ Nam P rồi nhanh chóng tẩu thoát.

Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Đức H đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định Cáo trạng số 57CT-VKS ngày 08/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Bùi Đức H là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:

Bị cáo H là người có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức pháp luật, biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái phép là vi phạm pháp luật, sẽ phải chịu chế tài của pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã lên kế hoạch kỹ càng từ việc chuẩn bị phương tiện tẩu thoát đến việc sử dụng công cụ nhằm phân tán sự chú ý của bị hại, qua đó dễ dàng chiếm đoạt được tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không lo tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà nay còn thực hiện hành phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Do đó, đối với bị cáo, cần phải xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, xét bị cáo Bùi Đức H chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã tích cực tác động gia đình khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi, trả lại cho người bị hại; bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt, qua đó giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[4] Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về tội danh và các điều luật áp dụng cũng như đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh – trắng có chữ G; 01 (một) mũ màu đen có khoét nhiều lỗ trên thân mũ (loại mũ xe đạp), 01 (một) áo khoác màu xám, 01 (một) áo thun màu trắng kem có viền cổ màu đỏ đậm, 01 (một) quần lửng vải màu trắng, 01(một) áo mưa tiện lợi có chất liệu ni lông trong suốt có hoa văn màu hồng thu giữ của bị cáo, do bị cáo không nhận lại và tài sản cũng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 (một) xe mô tô ETS màu đen - đỏ sậm, BKS 92NA-000.97 do ông Nguyễn B đứng tên chủ sở hữu, ông B khai nhận ông đã bán xe mô tô này khoảng năm 2017 cho một người không xác định theo dạng phế liệu tại huyện N, tỉnh Quảng Nam, còn bà Đặng Thị Kim L1 xác nhận đã mua lại xe này vào năm 2018 của một người không xác định cũng tại huyện N, tỉnh Quảng Nam với giá 700.000 đồng và bên bán đã giao giấy tờ gốc cho bà nhưng bà chưa làm thủ tục sang tên. Khi bị cáo H lấy xe đi thực hiện hành vi cướp giật tài sản bà L1 không biết nên cần trả lại xe mô tô nói trên cho bà L1 là phù hợp.
  • Đối với 01 đĩa DVD bên trong có chứa 03 đoạn video chứa hình ảnh liên quan đến việc bị cáo H cướp giật tài sản là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[7] Về những vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

  • Đối với bà Đặng Thị Kim L1 là mẹ ruột của bị cáo Bùi Đức H, bà L1 không biết bị cáo H sử dụng xe mô tô BKS 92NA-000.97 đi cướp giật tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà L1 là có cơ sở.
  • Đối với lời khai của Bùi Đức H khai vào khoảng 12 giờ ngày 23/01/2025, H cùng Nguyễn Gia H1 (chưa xác định nhân thân lai lịch) chung tiền mua ma túy và sử dụng ma túy tại khu vực chợ Đ, thành phố Đà Nẵng. Tiến hành xác minh tại Công an phường T và Công an phường T thì xác định không có ai tên Nguyễn Gia H1 cư trú trên địa bàn phường T và phường T như lời khai của H nên không có chứng cứ xác định Bùi Đức H có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ không xử lý hình sự đối với Bùi Đức H về hành vi này là phù hợp.
  • Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của H vào ngày 23/01/2025 đã bị Ủy ban nhân dân phường T Đông ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[8] Về án phí: Bị cáo Bùi Đức H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Đức H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Căn cứ: khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Bùi Đức H 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 24/01/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

  • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh – trắng có chữ G, 01 (một) mũ màu đen có khoét nhiều lỗ trên thân mũ (loại mũ xe đạp), 01 (một) áo khoác màu xám, 01 (một) áo thun màu trắng kem có viền cổ màu đỏ đậm, 01 (một) quần lửng vải màu trắng, 01(một) áo mưa tiện lợi có chất liệu ni lông trong suốt có hoa văn màu hồng.
  • Trả lại cho bà Đặng Thị Kim L1 01 (một) xe mô tô ETS màu đen - đỏ sậm, BKS: 92NA- 000.97, số máy 48YX1P39FMB001472, số khung CB2UM8XT01472.
  • (Các vật chứng trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/5/2025).
  • Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD bên trong có chứa 03 đoạn video chứa hình ảnh liên quan đến việc bị cáo H cướp giật tài sản.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Bùi Đức H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận

  • - VKSND quận Thanh Khê;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Khê;
  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - TAND TP. Đà Nẵng;
  • - Cơ quan CSĐT - CATP Đà Nẵng;
  • - Cơ quan THAHS CAQ Thanh Khê;
  • - Trại tạm giam CATP Đà Nẵng;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2025/HS-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 57/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Điều 251 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger