|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2025/HS-ST Ngày 02 tháng 6 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà
Thẩm phán: Ông Ngô Thế Tương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Võ Luyện
- Bà Nguyễn Thị Hường
- Bà Hoàng Thị Thu Hiền
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thúy Hằng - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Minh - Kiểm sát viên
Ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2025/TLST-HS ngày 15/4/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025, đối với:
1. Các bị cáo:
1.1. Bùi Xuân L,
sinh ngày 12/6/1994 tại tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 4/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Bùi Viết V và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); tiền án: không; tiền sự: Quyết định số 03/QĐ-XPHC ngày 30/01/2024 của Công an xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 1.250.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo chưa chấp hành; nhân thân: 1. Quyết định số 1544/QĐ-UBND ngày 16/7/2009 của UBND huyện H, tỉnh Tuyên Quang về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G1 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; 2. Quyết định số 128/QĐ-XPHC ngày 13/5/2013 của Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; 3. Bản án số 19/2016/HSST ngày 30/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/11/2016, chấp hành xong án phí ngày 20/9/2016; 4. Bản án số 10/2021/HSST ngày 09/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/3/2022, chấp hành xong án phí ngày 17/5/2021; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/8/2024 đến ngày 29/8/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.
1.2. Lò Văn S,
sinh ngày 08/5/1994 tại tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Lào; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lò Văn P (đã chết) và bà Lò Thị K; vợ: Quàng Thị B, có 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: từ tháng 9/2011 đến tháng 9/2013 tham gia nghĩa vụ quân sự tại Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn G2- Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đ; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/8/2024 đến ngày 29/8/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.
1.3. Trần Văn M,
sinh ngày 07/8/1983 tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị O; vợ: Trần Kim H, có 04 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: 1. Bản án số 37/HSST ngày 27/9/2002 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong bản án; 2. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04 ngày 03/12/2016 của Công an huyện B, tỉnh Bình Dương xử phạt 2.250.000 đồng về hành vi “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong ngày 11/01/2017; 3. Bản án số 95/2017/HSST ngày 21/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/9/2024, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.
2. Người bào chữa cho các bị cáo L, S, M:
Luật sư Phạm Hữu G - Văn phòng Luật sư Phạm Hữu L1 và cộng sự - Đoàn Luật sư tỉnh T, địa chỉ: Số C, đường T, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Anh Lê Thanh T2, sinh năm 1991; nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
3.2. Anh Vũ Doãn M1 (tức T3), sinh năm 1990; nơi cư trú: thôn F, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
4. Người chứng kiến:
4.1. Ông Bùi Văn B1, sinh năm 1962; địa chỉ: thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, vắng mặt.
4.2. Ông Bùi Văn B2, sinh năm 1954; địa chỉ: thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, vắng mặt.
5. Người làm chứng:
5.1. Anh Lường Văn N, sinh năm 1998; nơi ĐKHKTT: Bản Sẳng, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên. Chỗ ở: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
5.2. Anh Lò Văn B3, sinh năm 1996; nơi ĐKHKTT: Bản Phiêng Ban, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2022, Bùi Xuân L làm thuê tại công trình ghép cốp pha ở tỉnh Hưng Yên, tại đây bị cáo L quen Lò Văn S là công nhân làm thuê và Trần Văn M là quản lý công trình. Sau khi làm xong công trình bị cáo L nghỉ làm nhưng vẫn giữ liên lạc với S và M.
Tháng 6/2024, bị cáo M được Vũ Doãn M1 (tức T3) và Lê Thanh T2 thuê làm quản lý công trình ghép cốp pha tại khu công nghiệp L, huyện T, tỉnh Thái Bình, nhóm công nhân do M quản lý, quân số dao động từ 20 đến 30 người. Nhiệm vụ của M là quản lý chi tiêu (gồm ứng tiền cho công nhân hằng ngày, tiền ăn uống sinh hoạt và các khoản chi tiêu khác trên công trường) sau đó ghi chép lại cuối ngày gửi lên nhóm Z “Sổ ứng tiền” cho M1 và T2 biết để cuối tháng đối trừ thanh toán tiền công cho công nhân. Cuối tháng 6/2024, bị cáo L gọi điện cho S được biết S đang làm thuê cho M ở khu công nghiệp L, huyện T, tỉnh Thái Bình, khi L hỏi S về việc công nhân chỗ S đang làm có sử dụng ma túy không, thì S cho biết công nhân đa phần là người dân tộc ở các tỉnh phía Bắc có sử dụng ma túy. L nảy sinh ý định bán ma túy cho công nhân để kiếm lời nên gọi điện cho M xin được bán ma túy cho công nhân, M nói L đến hỏi công nhân nếu họ đồng ý thì làm. Ngày hôm sau, L về nhà trọ của S và các công nhân ở thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, L bàn với S bán ma túy cho công nhân đang làm thuê cho M, S đồng ý. L gọi điện cho M thông báo công nhân đã đồng ý, M nói “nếu công nhân đồng ý thì em cứ làm còn tiền ma túy công nhân sử dụng thì bao giờ T3 và T2 trả tiền cho công nhân thì anh sẽ trả cho em”. L nói đã nhờ S ghi chép số lượng ma túy từng công nhân mua sử dụng trong ngày, cuối ngày chụp ảnh gửi cho M, M đồng ý. L, S thống nhất L là người đi lấy ma túy heroine về chia nhỏ đóng trong các ống nhựa hàn kín hai đầu, giá 100.000 đồng/ống, 2 đến 3 ngày L sẽ mang ma túy về Thái Bình đưa cho S một lần, L đưa S 02 quyển sổ (01 quyển bìa màu đen, 01 quyển bìa có chữ KPOP) để ghi chép. S nhận ma túy từ L, hằng ngày công nhân nào mua ma túy thì S phát, S ghi chép vào sổ việc phát ma túy cho công nhân và chụp ảnh gửi qua Zalo cho M để M thanh toán tiền cho L. L, S bắt đầu bán cho công nhân từ ngày 01/7/2024. Căn cứ vào sổ S gửi M sẽ quy đổi thành tiền và cộng với tiền ứng thêm của từng công nhân tổng hợp lại ghi vào “Sổ ứng tiền” rồi chụp ảnh gửi lên nhóm Z có M, T2, M1 để T2, M1 nắm được tiền công nhân ứng; 3 đến 4 ngày M và L thanh toán tiền với nhau một lần, toàn bộ số tiền công nhân mua ma túy M chuyển cho L. Từ ngày 01/7/2024 đến ngày 22/8/2024 L, S đã bán 4.648 ống ma túy cho công nhân, M đã thanh toán cho L 464.800.000 đồng, L thu lời khoảng 46.480.000 đồng (10.000 đồng/ống). S được L trả công bằng việc cho ma túy để sử dụng hàng ngày, còn M không được L chia lợi nhuận từ việc bán ma túy.
Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 22/8/2024, L đang ở thành phố H thì nhận được tin nhắn của S: “Com du toj thoj sang maj ko du”, L hiểu là S đã hết ma túy để bán cho công nhân bảo L mua ma túy mang cho S. Lực nhắn lại “Ok”. Sau đó L điều khiển xe mô tô HONDA Vision biển số 99D1 - 407.58 đến khu vực cầu K, thuộc huyện T, tỉnh Bắc Ninh, gọi điện cho một người nam giới có số điện thoại 0777.714.xxx lưu tên “Ks” hỏi mua 27.000.000 đồng ma túy Heroin. Sau khi mua được ma túy L điều khiển xe về huyện T, tỉnh Thái Bình. Trên đường đi L vào một cửa hàng tạp hóa mua dụng cụ để chia nhỏ ma túy (01 túi ống hút bằng nhựa màu trắng, 01 dao tem, 01 bật lửa ga). Khi về chỗ trọ của S, L tiến hành chia ma túy, cắt ống hút thành nhiều đoạn hàn kín 01 đầu, dùng dao tem chia nhỏ ma túy cân từ 0,05 gam đến 0,06 gam đổ vào ống nhựa rồi hàn kín đầu còn lại. Lực đóng được 37 ống cho vào 01 túi nilon đưa S, S cầm để xuống nền nhà trước mặt chỗ S ngồi và lấy ra 01 túi nilon khác bên trong có 37 ống ma túy L đưa ngày 20/8/2024 chưa bán hết để xuống cạnh túi ma túy L vừa đưa. L tiếp tục chia ma túy đóng được 213 ống cho vào 01 túi nilon và 125 ống cho vào 01 túi nilon để xuống nền nhà trước mặt L. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày Tổ công tác của Công an huyện T phối hợp với Công an xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình bắt quả tang L đang giao ma túy cho S. Thu giữ dưới nền nhà trước mặt L đang ngồi 01 túi nilon chứa chất bột màu trắng dạng cục, 01 túi nilon chứa 125 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục và 01 túi nilon chứa 213 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục. Thu giữ dưới nền nhà trước mặt S đang ngồi 02 túi nilon trong mỗi túi đều chứa 37 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục. Thu giữ trên nền nhà 01 cân điện tử màu trắng, 01 mảnh dao tem, 01 ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 xe máy HONDA Vision màu đen, biển số 99D1- 407.58; 01 điện thoại OPPO màu trắng của L; 01 điện thoại OPPO màu xanh của S. Kiểm tra người Lực và S không phát hiện thu giữ gì. Khám xét chỗ ở của Bùi Xuân L và Trần Văn M không phát hiện, thu giữ gì liên quan đến ma túy.
Kết luận giám định số 1321/KL-KTHS ngày 27/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T xác định: “Mẫu vật thu giữ của Bùi Xuân L gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 34,6576g. Mẫu vật thu giữ của Lò Văn S gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 4,0400 gam”.
Ma túy thu giữ của Lò Văn S đóng trong 74 ống có khối lượng 4,0400 gam, như vậy trung bình 0,0545 gam/1 ống phù hợp với lời khai của Bùi Xuân L là đóng mỗi ống từ 0,05-0,06 gam, đủ căn cứ xác định 4.648 ống ma túy đã bán có khối lượng 253,3160 gam. Như vậy Bùi Xuân L, Lò Văn S và Trần Văn M phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng khối lượng ma tuý Heroin thu giữ và đã bán là 292,0136 gam (= 34,6576 gam + 4,0400 gam + 253,3160 gam).
Cáo trạng số 50/CT-VKSTB ngày 14/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố các bị cáo Bùi Xuân L, Lò Văn S, Trần Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Xuân L, Lò Văn S thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma tuý như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo Trần Văn M phủ nhận toàn bộ lời khai nhận tội tại giai đoạn điều tra, truy tố vì cho rằng lời khai đó là do bị cáo bị đánh đập, mớm cung ép cung. Bị cáo không đồng ý cho L bán ma tuý cho công nhân nơi bị cáo đang quản lý, việc bị cáo S ghi chép và chụp gửi Zalo cho bị cáo là việc S tự ghi chấm công của các công nhân, ghi việc ứng tiền rồi chụp gửi cho bị cáo. Lời khai của bị cáo L, bị cáo S tại phiên toà là không đúng nên bị cáo không phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận bị cáo có phạm tội nhưng không phải là tội Mua bán trái phép chất ma tuý, còn hành vi của bị cáo là tội gì thì bị cáo không biết.
Tại phiên tòa, bị cáo M đề nghị đối chất với bị cáo L, bị cáo L đều khẳng định khi có ý định về khu làm việc của M bán ma tuý cho công nhân thì L có gọi điện thoại cho bị cáo M để đề nghị được bán ma tuý, bị cáo M bảo bị cáo hỏi ý kiến công nhân nếu họ đồng ý thì cho bị cáo L bán. Bị cáo L giao cho bị cáo S trực tiếp phát ma tuý cho công nhân và ghi chép lại rồi chụp gửi cho M để M thanh toán tiền bán ma tuý cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
-
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Xuân L, Lò Văn S, Trần Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
-
Về hình phạt:
-
Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; Điều 17; Điều 39; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Xuân L tù Chung thân, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 23/8/2024. Phạt tiền bị cáo Bùi Xuân L từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
-
Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn S 20 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 23/8/2024. Phạt tiền bị cáo Lò Văn S từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
-
Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn M 20 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 18/9/2024. Phạt tiền bị cáo Trần Văn M từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
-
-
Về xử lý vật chứng: Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đối với toàn bộ số ma tuý trong 02 phong bì niêm phong số 1321 là vật chứng thu giữ của Bùi Xuân L và Lò Văn S; 01 cân điện tử màu trắng, 01 bật lửa ga bằng nhựa màu đỏ, 01 mảnh dao tem, 01 ống hút bằng nhựa màu trắng, 20 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, 01 kéo kim loại màu trắng cán nhựa màu đen là những vật chứng phạm tội của các bị cáo nên cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với 01 xe máy HONDA Vision màu đen, biển số 99D1-407.58, 01 điện thoại OPPO màu trắng thu của bị cáo Bùi Xuân L, 01 điện thoại OPPO màu xanh, 01 điện thoại Nokia vỏ màu đen thu của Lò Văn S, 01 điện thoại di động Masstel vỏ màu đen thu của Trần Văn M là các vật chứng các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone vỏ màu trắng thu giữ của anh Lê Thanh T2 không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho anh T2.
-
Về án phí: Các bị cáo đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Luật sư Phạm Hữu G bào chữa cho các bị cáo tranh luận: Luật sư không có ý kiến gì về phần tội danh và hình phạt bổ sung mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đề nghị áp dụng đối với các bị cáo. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Bùi Xuân L, bị cáo Lò Văn S bởi các bị cáo đã biết ăn năn hối cải, khai báo thành khẩn. Bị cáo S còn là người có nhân thân tốt. Đối với bị cáo Trần Văn M tại phiên tòa không thừa nhận hành vi phạm tội của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo L, bị cáo S đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa, không tranh luận bổ sung gì.
Bị cáo M tranh luận: Bị cáo không đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình. Bị cáo không đồng ý cho L bán ma tuý cho công nhân, không thanh toán tiền mua bán ma tuý cho bị cáo L nên bị cáo không phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo L và bị cáo S đều thấy ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đã thành khẩn khai báo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho các bị cáo mức thấp nhất để bị cáo sớm trở về với xã hội và gia đình. Bị cáo M đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại, bị cáo không phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Tại phiên tòa, các bị cáo đều trình bày, trong giai đoạn điều tra tại Cơ quan điều tra Công an huyện T, các bị cáo bị điều tra viên mặc thường phục nên không biết tên, tuổi đã đánh đập các bị cáo, ép cung, mớm cung nên những lời khai đó là không đúng. Bị cáo M không thừa nhận hành vi phạm tội như bản kết luận điều tra và bản cáo trạng đã truy tố. Tuy nhiên, các bị cáo không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh về việc bị mớm cung, ép cung, đánh đập. Các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án đều được tiến hành theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, cũng như tại tất cả các bản tự khai, biên bản lấy lời khai các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và là chứng cứ buộc tội lẫn nhau; phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, những người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa, ban đầu bị cáo L, bị cáo S cho rằng những lời khai trong giai đoạn điều tra tại Cơ quan điều tra Công an huyện T là do các bị cáo bị đánh, mớm cung, ép cung nhưng sau đó các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo M thay đổi lời khai, không thừa nhận về hành vi giúp sức cho Bùi Xuân L mua bán trái phép ma tuý cho các công nhân tại nơi làm việc do bị cáo M quản lý và cho rằng những lời khai trước đó bị cáo khai là do bị điều tra viên đánh đập, ép cung, buộc phải khai. Tuy nhiên, trong suốt quá trình điều tra, truy tố, bị cáo M không có khiếu nại gì về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, các hoạt động lấy lời khai của bị cáo được ghi âm, ghi hình, được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định, nên lời khai ban đầu của bị cáo là khách quan, đúng bản chất sự việc, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác và phù hợp với toàn bộ chứng cứ khác trong vụ án. Như vậy, có căn cứ để xác định: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 22/8/2024, tại khu nhà trọ của ông Bùi Thanh B4, sinh năm 1962, thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác của Công an huyện T phối hợp với Công an xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang Bùi Xuân L đang giao ma túy cho Lò Văn S để bán cho công nhân do Trần Văn M quản lý, mục đích kiếm lời, thu giữ 38,6976 gam ma túy Heroine. Bằng các lời khai của các bị cáo và các tài liệu, chứng cứ như sổ ghi chép số người, số lượng ống ma túy bán cho công nhân được bị cáo S ghi chép hàng ngày, rồi chụp gửi cho Trần Văn M để M tổng hợp số ma tuý các công nhân sử dụng trong ngày để đối trừ tiền công trả cho công nhân và số tiền ma tuý trả cho bị cáo L, nên có căn cứ xác định Bùi Xuân L bán ma túy cho công nhân tại công trường nơi bị cáo M quản lý, được sự đồng ý của Trần Văn M, từ ngày 01/7/2024 đến ngày 22/8/2024, Bùi Xuân L, Lò Văn S và Trần Văn M đã bán cho công nhân 4.648 ống ma tuý có khối lượng 253,3160 gam ma túy Heroine. Tổng khối lượng ma túy Bùi Xuân L, Lò Văn S và Trần Văn M phải chịu trách nhiệm hình sự là 292,0136 gam ma túy Heroine. Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, đi ngược lại với cuộc đấu tranh bài trừ tệ nạn ma túy của Nhà nước. Các bị cáo Bùi Xuân L, Lò Văn S, Trần Văn M đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng chỉ vì hám lợi, các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để lao vào con đường phạm tội. Điều 251 Bộ luật Hình sự - Tội mua bán trái phép chất ma túy quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: ...4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: ...b) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên..... 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Tổng khối lượng ma tuý Heroin thu giữ và đã bán của các bị cáo Bùi Xuân L, Lò Văn S, Trần Văn M là 292,0136 gam. Do đó, các bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[3] Đánh giá vai trò của các bị cáo; đánh giá tính chất, mức độ hậu quả do hành vi của từng bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo tiếp nhận ý chí của nhau và cùng thực hiện hành vi phạm tội. Trong đó bị cáo Bùi Xuân L được xác định giữ vai trò đầu vụ bởi L nảy sinh ý định bán ma túy cho công nhân để kiếm lời, L đã bàn bạc với S và M để cùng thực hiện, L là người trực tiếp mua ma túy của một người không biết tên tuổi, địa chỉ ở huyện T, tỉnh Bắc Ninh, sau đó chia nhỏ ma túy đóng trong các ống nhựa hàn kín hai đầu rồi đưa cho S để S phát ma túy cho công nhân với giá 100.000 đồng/ống. Bị cáo L khai báo thành khẩn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo L là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu, từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, trộm cắp tài sản, cố ý làm hư hỏng tài sản và bị xử phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội không có thời hạn để trừng trị, giáo dục bị cáo. Bị cáo Lò Văn S nhận ma túy từ L, hàng ngày phát ma túy cho công nhân có nhu cầu và ghi chép vào sổ việc phát ma túy, cuối ngày chụp ảnh gửi qua Zalo cho M để M thanh toán tiền cho L, bị cáo S được trả công bằng ma tuý để sử dụng từ 3-4 lần trong một ngày nên bị cáo xếp vai trò thứ hai trong vụ án. Bị cáo S là người nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự, khai báo thành khẩn, có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do vậy, xử phạt bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn, với mức khởi khung của khung hình phạt là phù hợp. Bị cáo Trần Văn M đồng ý cho bị cáo L bán ma túy cho công nhân do bị cáo M đang quản lý, căn cứ vào sổ bị cáo S gửi, bị cáo M sẽ thanh toán tiền cho bị cáo L và bị cáo M không được bị cáo L chia lợi nhuận từ việc bán ma túy nên giữ vai trò thứ 3 trong vụ án. Tuy vai trò của bị cáo thấp hơn bị cáo S nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu, từng bị xử phạt tù về tội cố ý gây thương tích và trộm cắp tài sản, bị xử phạt hành chính về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy, bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ nào nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương đương với bị cáo S là phù hợp.
[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo mua bán trái phép chất ma túy với mục đích vụ lợi, vì vậy cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, phạt tiền bị cáo Bùi Xuân L 15.000.000 đồng; phạt tiền bị cáo Lò Văn S, Trần Văn M mỗi bị cáo 10.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
[5] Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy thu giữ khi bắt quả tang được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong mặt trước phong bì ghi vật chứng thu giữ của Bùi Xuân L và 01 phong bì niêm phong mặt trước phong bì ghi vật chứng thu giữ của Lò Văn S là vật Nhà nước cấm lưu hành và 01 cân điện tử màu trắng, 01 mảnh dao tem bằng kim loại màu trắng, 01 kéo kim loại màu trắng, 01 bật lửa ga bằng nhựa màu đỏ, 20 chiếc túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, 01 ống hút bằng nhựa màu trắng là vật chứng vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Vision màu đen, biển số 99D1 - 407.58, số khung: RLHJF5839KY513010, số máy: JF86E021810, 01 điện thoại di động OPPO vỏ màu trắng thu giữ của Bùi Xuân L; 01 điện thoại di động OPPO vỏ màu xanh và 01 điện thoại di động NOKIA vỏ màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn S và 01 điện thoại di động Masstel vỏ màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Trần Văn M là các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với 01 điện thoại Iphone vỏ màu trắng của anh Lê Thanh T2 không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho anh T2.
[6] Các vấn đề khác trong vụ án:
[6.1] Đối với anh Vũ Doãn M1 (tức T3) và anh Lê Thanh T2: Quá trình điều tra chưa có tài liệu thể hiện có việc Vũ Doãn M1 và Lê Thanh T2 thông đồng với Trần Văn M để Bùi Xuân L bán ma túy cho công nhân do vậy chưa đủ căn cứ xử lý đối với Vũ Doãn M1 và Lê Thanh T2, Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra làm rõ đủ căn cứ xử lý sau là đúng pháp luật.
[6.2] Đối với các công nhân đã mua ma túy của bị cáo Bùi Xuân L: Tài liệu điều tra xác định trong sổ ghi chép Lò Văn S chỉ ghi tên công nhân và số lượng ma túy công nhân mua hàng ngày, các bị cáo khai không rõ họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể của công nhân, chỉ xác định được 2 công nhân anh Lò Văn B3 và anh Lường Văn N, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền mỗi người 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nộp phạt ngày 18/3/2025. Các công nhân còn lại không đủ thông tin cá nhân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là đúng pháp luật.
[6.3] Đối với ông Bùi Thanh B4, sinh năm 1962, trú tại thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình là chủ nhà trọ của nhóm công nhân. Quá trình điều tra xác định việc công nhân mua ma túy của Bùi Xuân L và sử dụng ma túy tại nhà trọ ông B4 không biết nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng pháp luật.
[6.4] Về nguồn gốc số ma túy: Bùi Xuân L khai toàn bộ số ma túy bán cho công nhân, L liên hệ theo số điện thoại 0777.714.xxx mua của một người nam giới bán ma túy ở Bắc Ninh, người này khoảng 30 tuổi, không biết họ tên, địa chỉ, hình thức giao dịch là nhận hàng giao tiền trực tiếp. L được một người tên L2 ở tỉnh Sơn La cho số điện thoại nhưng không biết họ tên đầy đủ, địa chỉ của L2. Quá trình điều tra xác định chủ số điện thoại trên là Sa Văn B5, sinh năm 2001; trú tại bản Trò 2, xã H, huyện P, tỉnh Sơn La, Cơ quan điều tra đã ủy thác điều tra nhưng Sa Văn B5 không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra đủ căn cứ xử lý sau là đúng pháp luật.
[7] Về án phí: Các bị cáo Bùi Xuân L, Lò Văn S, Trần Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Xuân L, Lò Văn S, Trần Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
-
Về hình phạt:
-
Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; Điều 17; Điều 39; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Xuân L tù Chung thân, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 23/8/2024. Phạt tiền bị cáo Bùi Xuân L 15.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
-
Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn S 20 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 23/8/2024. Phạt tiền bị cáo Lò Văn S 10.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
-
Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn M 20 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 18/9/2024. Phạt tiền bị cáo Trần Văn M 10.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
-
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
-
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong mặt trước phong bì ghi vật chứng thu giữ của Bùi Xuân L và 01 phong bì niêm phong mặt trước phong bì ghi vật chứng thu giữ của Lò Văn S; 01 cân điện tử màu trắng; 01 mảnh dao tem bằng kim loại màu trắng; 01 kéo kim loại màu trắng; 01 bật lửa ga bằng nhựa màu đỏ; 20 chiếc túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ; 01 ống hút bằng nhựa màu trắng.
-
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Vision màu đen, biển số 99D1 - 407.58, số khung: RLHJF5839KY513010, số máy: JF86E021810; 01 điện thoại di động OPPO vỏ màu trắng của bị cáo Bùi Xuân L; 01 điện thoại di động OPPO vỏ màu xanh và 01 điện thoại di động NOKIA vỏ màu đen của bị cáo Lò Văn S; 01 điện thoại di động Masstel vỏ màu đen của Trần Văn M.
-
Trả lại cho anh Lê Thanh T2 01 điện thoại IPHONE vỏ màu trắng.
Các vật chứng này có đặc điểm mô tả chi tiết tại Quyết định chuyển vật chứng số 40/QĐ-VKSTB ngày 14/4/2025; Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/4/2025 và đã được chuyển đến Cục Thi hành án tỉnh Thái Bình.
-
-
Án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo Bùi Xuân L, Lò Văn S, Trần Văn M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 02/6/2025; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Hà |
Bản án số 57/2025/HS-ST ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 57/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Lực và đồng phạm
