Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TRẢNG BÀNG

TỈNH TÂY NINH

 

Bản án số: 57/2025/HNGĐ-ST.

Ngày 26/6/2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Kỳ Trung;

Bà Dương Thị Mỹ Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 153/2025/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Tạ Mai Anh Lưu L, sinh năm 1992; vắng mặt.

Cư trú tại: khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Anh Bùi Quốc D, sinh năm 1990; có mặt.

Cư trú tại: khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn - chị Phạm Tạ Mai Anh Lưu L trình bày:

Chị và anh Bùi Quốc D chung sống với nhau vào năm 2014, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T (nay là phường A, thị xã T), tỉnh Tây Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống tại nhà của cha mẹ ruột anh D tại khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Trong quá trình chung sống, giữa vợ, chồng không hòa thuận với nhau, có mâu thuẫn về kinh tế gia đình và anh D thường xuyên uống rượu, không quan tâm đến vợ, con. Vào năm 2023, chị đã nộp đơn yêu cầu ly hôn đến Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng nhưng sau đó Tòa án đã hòa giải và vợ chồng chị thống nhất đoàn tụ lại với nhau. Tuy nhiên, anh D vẫn không thay đổi, vợ chồng chị tiếp tục xảy ra mâu thuẫn và đã tự ly thân từ tháng 7/2023 đến nay, không còn chung sống và quan tâm đến nhau. Nay chị yêu cầu được ly hôn anh D.

Về con chung: vợ chồng chị có 03 người con chung là cháu Bùi Thanh N, sinh ngày 09/11/2015, cháu Bùi Duy H, sinh ngày 15/5/2019 và cháu Bùi Duy H1, sinh ngày 21/5/2021. Cháu N, cháu H và cháu H1 đều rất khỏe mạnh, phát triển bình thường, không bị bệnh tật, dị tật bẩm sinh. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả ba cháu; không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: vợ chồng chị không nợ ai, không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn - anh Bùi Quốc D trình bày:

Anh thống nhất với lời trình bày của chị L về thời gian kết hôn, việc đăng ký kết hôn và nơi chung sống sau khi kết hôn. Về nguyên nhân mâu thuẫn, anh thừa nhận thường xuyên uống một ít rượu nhưng anh vẫn quan tâm, chăm sóc con cái. Trong quá trình chung sống, giữa vợ chồng không có mâu thuẫn trầm trọng nhưng giữa vợ chồng không thể hiểu và thông cảm cho nhau. Vào năm 2023, chị L đã từng nộp đơn yêu cầu ly hôn, vợ chồng anh thống nhất đoàn tụ nhưng không thành và đã tự ly thân từ tháng 7/2023 đến nay, không còn chung sống với nhau. Trước đây anh không đồng ý ly hôn vì anh mong muốn các con có gia đình hoàn chỉnh được cả cha lẫn mẹ chăm sóc. Tuy nhiên, hiện tại chị L vẫn kiên định yêu cầu ly hôn, không muốn chung sống cùng với anh nên anh cũng đồng ý ly hôn với chị L.

Về con chung: vợ chồng anh có 03 người con chung là cháu Bùi Thanh N, sinh ngày 09/11/2015, cháu Bùi Duy H, sinh ngày 15/5/2019 và cháu Bùi Duy H1, sinh ngày 21/5/2021. Cháu N, cháu H và cháu H1 đều rất khỏe mạnh, phát triển bình thường, không bị bệnh tật, dị tật bẩm sinh. Khi ly hôn, do chị L yêu cầu được nuôi con nên anh đồng ý giao cháu N, cháu H và cháu H1 cho chị L được nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: vợ chồng anh không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: vợ chồng anh không nợ ai.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình xem xét quyết định:

  1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Tạ Mai Anh Lưu L đối với anh Bùi Quốc D.
  2. Về con chung: giao cháu Bùi Thanh N, cháu Bùi Duy H, cháu Bùi Duy H1 cho chị L nuôi dưỡng, chăm sóc. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh D cấp dưỡng.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
  4. Về án phí: đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng: nguyên đơn chị L vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: chị L, anh D tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Do đó, hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Quá trình chung sống giữa vợ, chồng đã phát sinh mâu thuẫn, không thể hiểu và thông cảm cho nhau, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Vào tháng 6/2023, chị L đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh D, sau khi được Tòa án hòa giải thì vợ chồng thống nhất đoàn tụ nhưng sau đó vợ chồng anh, chị vẫn tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, không thể chung sống hòa hợp với nhau và đã tự ly thân từ tháng 7/2023 đến nay.

Nay chị L yêu cầu được ly hôn anh D, tại phiên tòa anh D cũng đồng ý ly hôn chị L cho thấy đời sống hôn nhân của chị L, anh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, khả năng đoàn tụ giữa chị L và anh D đã không còn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh D, cho chị L được ly hôn anh D.

[3] Về con chung: vợ chồng chị L, anh D có 03 người con chung là cháu Bùi Thanh N, sinh ngày 09/11/2015, cháu Bùi Duy H, sinh ngày 15/5/2019 và cháu Bùi Duy H1, sinh ngày 21/5/2021. Hiện tại, cháu N, cháu H và cháu H1 rất khỏe mạnh, phát triển bình thường, không bị bệnh tật, dị tật bẩm sinh. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con; bên cạnh đó, cháu N cũng có nguyện vọng theo sống cùng với mẹ khi cha, mẹ ly hôn. Tại phiên tòa, anh D cũng đồng ý giao các con cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu N, cháu H và cháu H1 cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Ghi nhận chị L không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Anh Duy có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung: chị L, anh D không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Về nợ chung: chị L, anh D trình bày không có nợ.

[5] Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.

[6] Án phí: chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Tạ Mai Anh Lưu L đối với anh Bùi Quốc D.

    Chị Phạm Tạ Mai Anh Lưu L được ly hôn anh Bùi Quốc D.

  2. Về con chung: giao cháu cháu Bùi Thanh N, sinh ngày 09/11/2015, cháu Bùi Duy H, sinh ngày 15/5/2019 và cháu Bùi Duy H1, sinh ngày 21/5/2021 cho chị Phạm Tạ Mai A Lưu Luyến được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

    Ghi nhận chị L không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

    Anh Duy có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: chị L, anh D không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
  4. Về nợ chung: chị L, anh D trình bày không có nợ.
  5. Về án phí: chị Phạm Tạ Mai Anh Lưu L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012455 ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: anh D có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị L có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND thị xã Trảng Bàng;
  • - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng;
  • - UBND phường An Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Án văn, hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Minh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 57/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Tạ Mai Anh Lưu L ly hôn Bùi Quốc D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger