TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2025/HNGĐ-ST
Ngày 26-5-2025
V/v: Ly hôn giữa chị Dương và anh Dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hương.
- Ông Lò Văn Khẹt.
– Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên tòa: Ông Lường Văn Hoan - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2025/TLST–HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 về việc: Tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Lò Thị D, sinh năm 1998. Địa chỉ: Bản M, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Quàng Văn D1, sinh năm 1995. Địa chỉ: Bản M, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lò Thị D trình bày:
Chị và anh Quàng Văn D1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, ngày 20/4/2015 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sơn La. Quá trình chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Quàng Văn D1 sử dụng ma túy, không chịu làm ăn. Mâu thuẫn đã được gia đình hai bên và chính quyền địa phương hòa giải, nhưng không khắc phục được, từ lâu hai vợ chồng đã không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu ly hôn anh Quàng Văn D1.
Về con chung: Có hai con là Quàng Mộc U, sinh ngày 05/4/2015 và Quàng Trung H, sinh ngày 21/3/2018. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con, không yêu cầu anh Quàng Văn D1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Quàng Văn D1 từ chối trình bày: Căn cứ vào ý kiến của cơ sở và các tài liệu chứng cứ trong vụ án xác nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Thị D và anh Quàng Văn D1 là có thật. Xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn phù hợp với lời khai của chị Lò Thị D.
Về con chung: Có hai con là Quàng Mộc U, sinh ngày 05/4/2015 và Quàng Trung H, sinh ngày 21/3/2018.
Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án.
Cần cứ để xử cho chị Lò Thị D được ly hôn anh Quàng Văn D1;
Về con chung: Giao cho chị Lò Thị D trực tiếp nuôi các cháu Quàng Mộc U, sinh ngày 05/4/2015 và Quàng Trung H, sinh ngày 21/3/2018. Chị Lò Thị D không yêu cầu anh Quàng Văn D1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Lò Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà và các quy định của pháp luật. Tòa án phân tích, đánh giá, nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Chị Lò Thị D khởi kiện ly hôn anh Quàng Văn D1 có địa chỉ tại bản M, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
Bị đơn anh Quàng Văn D1 sau khi được thông báo về việc thụ lý vụ án, đã từ chối khai trình bầy nguyện vọng, đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã H, huyện M và đã triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ xử vắng mặt anh Quàng Văn D1.
Nguyên đơn chị Lò Thị D có đơn đề nghị xử vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ theo quy định Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Lò Thị D và anh Quàng Văn D1 kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được UBND xã H, huyện M, tỉnh Sơn La cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/4/2015, như vậy hôn nhân giữa chị Lò Thị D và anh Quàng Văn D1 là hôn nhân hợp pháp.
Về nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Lò Thị D và anh Quàng Văn D1: Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh D1 có hành vi sử dụng ma túy. Tại biên bản xác minh ngày 23/4/2025 xác nhận chị Lò Thị D và anh Quàng Văn D1 có mâu thuẫn do anh D1 sử dụng ma túy, không chăm lo xây dựng gia đình. Từ nhiều năm hai người đã không quan tâm đến cuộc sống của nhau.
Xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng chị Lò Thị D và anh Quàng Văn D1 đã được gia đình và chính quyền địa phương khuyên giải, đã kéo dài, trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị Lò Thị D yêu cầu được ly hôn là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Cần chấp nhận xử cho chị Lò Thị D được ly hôn anh Quàng Văn D1.
[3] Về con chung:
Có hai con là Quàng Mộc U, sinh ngày 05/4/2015 và Quàng Trung H, sinh ngày 21/3/2018. Căn cứ theo nguyện vọng của chị Lò Thị D được trực tiếp nuôi hai con, đồng thời các con cũng có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Chị Lò Thị D không yêu cầu anh Quàng Văn D1 phải cấp dưỡng nuôi con, nên cần chấp nhận giao cho chị Lò Thị D trực tiếp nuôi dưỡng hai con. Anh Quàng Văn D1 không phải cấp dưỡng nuôi con, theo quy định của các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Lò Thị D đã được giải thích thủ tục miễn án phí, nhưng chị không cần miễn án phí. Chị Lò Thị D chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:
- Xử cho chị Lò Thị D được ly hôn anh Quàng Văn D1.
- Về con chung: Giao cho chị Lò Thị D trực tiếp nuôi con Quàng Mộc U, sinh ngày 05/4/2015 và Quàng Trung H, sinh ngày 21/3/2018. Anh Quàng Văn D1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
- Về tài sản riêng, tài sản chung, nợ chung: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Lò Thị D phải chịu 300.000, đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002262 ngày 19/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Nguyễn Minh Tuấn |
Bản án số 57/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 57/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa chị Lò Thị Dương và Quàng Văn Dụng
