Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23/6/2025

V/v: Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Yến Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Toàn;
  2. Bà Nguyễn Thị Viết Sáu;

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thùy D – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Mỹ T – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 433/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 262/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 289/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04/6/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Ngô Văn N, sinh năm 1986.

Trú tại: khu phố E, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: Bà Bùi Thị Kim P, sinh năm 1986.

Trú tại: khu phố E, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn trình bày:Tôi và bà Bùi Thị Kim P kết hôn và chung sống với nhau vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, cấp ngày 14/9/2009.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, cùng nhau làm ăn lo cho gia đình và con cái. Về sau thì chúng tôi phát sinh mâu thuẫn, thường xảy ra cãi vã, đời sống gia đình không còn hạnh phúc.

Đến năm 2015, do vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng, nên cô P đã bỏ nhà đi từ đó cho đến nay, không liên lạc gì với tôi nữa, để tôi một mình nuôi các con còn nhỏ dại.

Từ đó đến nay tôi và địa phương không biết cô P đang ở đâu, nơi cư trú cuối cùng của cô P là khu phố E, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Tôi đã thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với bà Bùi Thị Kim P.

Nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng đã hết, nên tôi làm đơn này mong Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với cô Bùi Thị Kim P.

Về con chung: Tôi và bà P có 03 con chung tên Ngô Quỳnh N1, sinh ngày 12/09/2006, Ngô Quỳnh T1, sinh ngày 31/01/2012 và Ngô Kim Q, sinh ngày 5/10/2014.

Tôi có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Ngô Quỳnh T1 và Ngô Kim Q. Không yêu cầu bà Bùi Thị Kim P cấp dưỡng tiền nuôi con.

Riêng con Ngô Quỳnh N1 đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà Bùi Thị Kim P đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà P vẫn vắng mặt nên Toà án không ghi lời khai, không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải được.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát có ý kiến như sau:

- Về tố tụng: từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán, thư ký chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng quy định.

Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tiến hành các trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với người tham gia tố tụng: nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật và chấp hành tốt nội quy phiên tòa. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và vắng mặt tại phiên tòa.

- Về nội dung: Qua xem xét hồ sơ và lời khai của đương sự tại phiên tòa, Viện kiểm sát thấy rằng tình cảm vợ chồng giữa ông Ngô Văn N và bà Bùi Thị Kim P không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó:

Về hôn nhân: đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông Ngô Văn N, ông Ngô Văn N được ly hôn bà Bùi Thị Kim P.

Về con chung: Ông Ngô Văn N và bà Bùi Thị Kim P có 03 con chung tên Ngô Quỳnh N1, sinh ngày 12/09/2006, Ngô Quỳnh T1, sinh ngày 31/01/2012 và Ngô Kim Q, sinh ngày 5/10/2014.

Sau khi ly hôn, ông N có nguyện vọng trược tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Ngô Quỳnh T1 và Ngô Kim Q, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông N về nuôi con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: ông N không yêu cầu bà P cấp dưỡng tiền nuôi con nên không xét.

Riêng con Ngô Quỳnh N1 đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Viện kiểm sát không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, nghe lời trình bày của đương sự và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: ông Ngô Văn N có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bà Bùi Thị Kim P. Bà Bùi Thị Kim P là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú cuối cùng tại: khu phố E, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết theo qui định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về việc xét xử vắng mặt:

Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã ban hành Quyết định số 03/QĐ-TA ngày 13/12/2023 về việc Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với bà Bùi Thị Kim P.

Bà Bùi Thị Kim P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà P là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về hôn nhân:

Ông Ngô Văn N và bà Bùi Thị Kim P kết hôn và chung sống với nhau vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, Giấy chứng nhận kết hôn số 44/2009 cấp ngày 14/9/2009.

Trong quá trình chung sống do hai bên bất đồng về cách sống nên dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng, ông N và bà P không còn sự yêu thương, quý trọng nhau, bỏ mặc nhau muốn sống ra sao thì sống, hôn nhân không còn hạnh phúc. Về phía bà P, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện để bà P và ông N hòa giải nhưng bà P đều vắng mặt.

Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng của vợ chồng ông N và bà P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông N.

[4] Về con chung: ông N và bà P có 03 con chung tên Ngô Quỳnh N1, sinh ngày 12/09/2006, Ngô Quỳnh T1, sinh ngày 31/01/2012 và Ngô Kim Q, sinh ngày 5/10/2014.

Tại phiên toà, ông N có nguyện vọng trược tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Ngô Quỳnh T1 và Ngô Kim Q. Xét thấy, hiện nay 02 cháu đang sống với ông N. Do đó căn cứ theo Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông N, giao 02 cháu Ngô Quỳnh T1 và Ngô Kim Q cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Riêng con Ngô Quỳnh N1 đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về cấp dưỡng: ông N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung: ông N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về nợ chung: ông N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: ông N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch về yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 70, Điều 72, Điều 92, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Ngô Văn N. Ông Ngô Văn N được ly hôn với bà Bùi Thị Kim P.
  2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Ngô Quỳnh T1, sinh ngày 31/01/2012 và Ngô Kim Q, sinh ngày 5/10/2014 cho ông Ngô Văn N trực tiếp nuôi dưỡng.

Riêng con Ngô Quỳnh N1, sinh ngày 12/09/2006 đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con: Ông Ngô Văn N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con đối với bà Bùi Thị Kim P.

Bà Bùi Thị Kim P có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn. Bà Bùi Thị Kim P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  1. Về án phí: Ông Ngô Văn N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn. Ngày 04/12/2024 ông N đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0002471 tại Chi cục thi hành án thành phố Phan Thiết nay chuyển sang thành án phí và sung công quỹ nhà nước. Ông N đã nộp đủ án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/6/2025). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

  • - Các đương sự
  • - Viện kiểm sát nhân dân Phan Thiết
  • - Toà án tỉnh Bình Thuận
  • - Thi hành án dân sự Phan Thiết
  • - UBND phường Thanh Hải, TP. Phan Thiết, Tỉnh Bình Thuận.
  • - Lưu.

Đỗ Thị Yến Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 57/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Ngô Văn N và bà Bùi Thị Kim P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger