Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 57/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04/4/2025.

V/v “Tranh chấp hôn nhân

và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đại Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Danh Lơi

Ông Lê Hữu Tới

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 192/2024/HNGĐ-ST ngày 31/10/2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/3/2025, quyết định hoãn số 08/2025/QĐ-ST ngày 19/3/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lò Văn Ó, sinh ngày 16/7/1998;

Căn cước số: [...] cấp tại Cục Cảnh sát QLHC về TTXH ngày 14/9/2024.

Nơi ở hiện nay: Thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Điện thoại: 0972.883.xxx.

- Bị đơn:

Chị Ngô Thị Y, ngày sinh: 03/6/1995.

CMND: [...] do Công an tỉnh N cấp ngày 14/10/2019.

CCCD: [...].

Quê quán: Xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.

Tại phiên tòa anh Ó và chị Y đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là anh Lò Văn Ó trình bày:

Về hôn nhân: Anh Ó và chị Ngô Thị Y tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa số 29/2017 ngày 06/7/2017. Sau khi kết hôn chúng anh chị cùng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì chị Y đi lao động ở Đài Loan nên tình cảm vợ chồng dần một xa nên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không còn quan tâm đến nhau, đã sống ly thân từ đó cho đến nay, nay chị Y sống thế nào anh Ó không biết nên anh Ó thấy tình cảm vợ chồng đã hết đời sống chung không thể kéo dài anh xin được ly hôn với chị Y để sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lò Đức H, sinh ngày 01/8/2017. Saukhi ly hôn nguyện vọng của anh Ó xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H không yêu cầu chị Y phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ chung: Anh Ó không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Ó trình bày không biết địa chỉ cụ thể của chị Y ở bên Đài Loan nên không thể cung cấp cho Tòa án. Chị Y vẫn thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ là bà Đặng Thị T, địa chỉ tại xóm B, xã D huyện D tỉnh Nghệ An. Anh Ó đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin từ mẹ chị Ngô Thị Y.

* Tại các buổi xác minh tại gia đình chị Y, có mặt mẹ đẻ là bà Đặng Thị Thanh Tòa Á tiến hành lấy lời khai của bà.

* Tại các biên bản xác minh bà T trình bày:

Bà là mẹ đẻ của chị Y và là mẹ vợ của anh Ó. Hiện nay chị Y đi xuất lao động tại Đài Loan, địa chỉ bà không biết, thỉnh thoảng chị Y liên lạc với bà và con trai qua mạng xã hội và điện thoại. Về hôn nhân có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn ngày 06/7/2017 tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vợ chồng cùng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2020 thì chị Y đi Đài Loan nên phát sinh mâu thẫn nguyên nhân là anh Ó không chịu làm ăn thường xuyên đánh đập vợ con nên chị Y cũng có ý định bỏ chồng từ lâu. Nay anh Ó có đơn ly hôn thì bà đồng ý, bà biết là chị Y đã biết và cũng đồng ý. Bà đồng ý nhận các giấy tờ tố tụng của Tòa án để giao lại cho chị Y.

Về con thì cháu Lò Đức H sinh ngày 01/8/2017 cháu ở với bà từ khi mới sinh ra cho đến nay, mọi chi phí bà lo hết nên bà xin được tiếp tục nuôi cháu H, bà cũng đã thông tin cho chị Y đây cũng là nguyện vọng của chị Y và không yêu cầu anh Ó phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung và đây cũng là nguyện vọng của cháu H muốn ở với bà ngoại.

Về tài sản chung thì bà không biết không có ý kiến.

Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 3 Điều 35, Điều 39, khoản 3 Điều 208, Điều 477, Điều 478 BLTTDS và công văn 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của TAND tối cao. Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Lê Văn Ó1 được ly hôn với chị Ngô Thị Y; Giao cháu Lò Đức H sinh ngày 01/8/2017 cho anh Lò Văn Ó trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Ghi nhận sự tự nguyện của anh Ó không yêu cầu chị Y phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để xem xét và quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn trình bày hiện tại bị đơn chị Ngô Thị Y đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Tại công văn số: 4538/XNC (T3) ngày 10/10/2024 của Công an Tỉnh T phòng quản lý xuất nhập cảnh cung cấp thông tin cho Tòa án xác định chị Ngô Thị Y, sinh ngày 03/6/1995; CCCD số [...] đã xuất cảnh qua sân bay N vào ngày 12/4/2023 đến nay chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do trong vụ án này có bị đơn cư trú ở nước ngoài, tuy nhiên có nói cư trú cuối cùng tại thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

[1.2]. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:

Anh Lò Văn Ó chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của chị Ngô Thị Y ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của chị Y ở tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng mẹ của chị Y từ chối khai báo, cung cấp thông tin. Tuy nhiên gia đình vẫn nắm bắt thông tin qua mạng xã hội và điện thoại với chị Y ở nước ngoài nên đồng ý nhận giấy tờ của Tòa án và sẽ thông báo cho chị Y, vì vậy Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.

[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự:

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn anh Lò Văn Ó có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn chị Ngô Thị Y vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh Lò Văn Ó và chị Ngô Thị Y.

[2]. Xét nội dung khởi kiện của anh Lò Văn Ó:

[2.1]. Về hôn nhân: Anh Lò Văn Ó và chị Ngô Thị Y kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có Giấy đăng ký kết hôn ngày 06/7/2017 tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp, là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không quan tâm nhau, không còn tình cảm và đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay anh Lò Văn Ó thấy tình cảm vợ chồng đã hết đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với chị Ngô Thị Y để sớm ổn định cuộc sống.

Xét thấy, cuộc sống chung của anh Lò Văn Ó và chị Ngô Thị Y không còn tồn tại, mục đích hôn nhân là cùng tạo lập, xây dựng cuộc sống chung không đạt được. Vì vậy, HĐXX căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lò Văn Ó, cho anh Lò Văn Ó được ly hôn chị Ngô Thị Y là phù hợp.

[2.2]. Về con chung: Anh Lò Văn Ó và chị Ngô Thị Y có một con chung là cháu Lò Đức H, sinh ngày 01/8/2017. Nguyện vọng của anh Lò Văn Ó là trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu H không yêu cầu chị Y cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Xét thấy hiện tại chị Y đang làm việc tại Đài Loan, không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lò Huy Đ được, mặc dù hiện nay cháu đang ở với bà ngoại từ khi còn nhỏ cho đến nay và nguyện vọng của bà ngoại cũng như cháu Đ tha thiết xin được ở với bà ngoại nhưng không thể giaocháu cho bà ngoại là mẹ đẻ của chị Y tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ, nên giao cháu Đ cho anh Lò Văn Ó trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng là đúng theo quy định của pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Lò Văn Ó về việc không yêu cầu chị Y phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh. Tuy nhiên, quá trình nuôi dưỡng con chung, để bảo đảm cuộc sống cho cháu, khi cần thiết anh Ó có quyền khởi kiện yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.3]. Về tài sản chung và công nợ: Anh Ó không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xét. Chị Y không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản và công nợ chung nên nếu sau này chị Y có yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

[3]. Về án phí: Anh Lò Văn Ó là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên anh Ó phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh Lò Văn Ó đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 39; Điều 208; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238, Điều 266; Điều 273; Điều 477; Điều 478; Điều 479 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Lò Văn Ó.
    • - Về hôn nhân: Anh Lò Văn Ó được ly hôn với chị Ngô Thị Y.
    • - Về con chung: Giao con chung của vợ chồng là cháu Lò Đức H, sinh ngày 01/8/2017 cho bố đẻ là anh Lò Văn Ó trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn.
    • Chị Ngô Thị Y không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Y có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
    • Trường hợp có căn cứ để thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
    • - Về tài sản và công nợ chung: Anh Lò Văn Ó không yêu cầu giải quyết tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Anh Lò Văn Ó phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí mà anh Ó đã nộp tại Biên lai thu số: 0000627 ngày 31/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
  3. Về quyền kháng cáo: Anh Lò Văn Ó và chị Ngô Thị Y có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P9);
  • - Cục THADS, tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Luận Khê, h Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, tổ HCTP, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đại Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 57/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và con chung sau khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger