Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20 – 6 – 2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Kim Lý
  2. Ông Lục Kim Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 83/2025/QÐST – HNGĐ ngày 20/5/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị C, sinh năm: 1995; địa chỉ cư trú: Tổ C, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương.

Bị đơn: Anh Lê Thọ A, sinh năm: 1992; địa chỉ cư trú: Tổ C, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương.

(chị C, anh A vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 06/12/2024, các bản tự khai đề ngày 06/12/2025, 06/02/2025 nguyên đơn chị Phạm Thị C trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh A tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 07/4/2017. Vợ chồng chung sống đến tháng 7/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh A không chuyên tâm làm ăn lo cho gia đình, thiếu trách nhiệm với vợ và các con. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên từ tháng 10/2024 vợ chồng không còn chung sống, không ai có biện pháp hàn gắn đoàn tụ. Nay nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng, chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh A.

Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Lê Uyên T, sinh ngày: 30/8/2018; Lê Uyên N, sinh ngày: 25/8/2022 và Lê Minh P, sinh ngày: 04/10/2024. Hiện các con chung sống cùng với chị C. Khi ly hôn, chị C yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng ba con chung, không yêu cầu anh A thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung, nợ riêng: Vợ chồng không có nợ chung, nợ riêng.

Đối với bị đơn anh Lê Thọ A: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ đối với anh A nhưng anh A vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án và vắng mặt tại phiên tòa, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi đến Tòa án.

Tại biên bản xác minh ngày 05/02/2025 thực hiện tại Ủy ban nhân dân phường phường T, thành phố B, thể hiện: Anh A, chị C sinh sống tại tổ C, khu phố B, phường T, thành phố B từ tháng 6/2024. Về tình trạng hôn nhân giữa anh A và chị C, chính quyền địa phương không nắm rõ. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.

Về việc giải quyết tranh chấp: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

2

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa tuy nhiên có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Chị C và anh A có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B (nay là thành phố B) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 07/4/2017. Việc đăng ký kết hôn tự nguyện, đảm bảo điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó hôn nhân giữa chị C và anh A là hôn nhân hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình chung sống giữa chị C và anh A phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong lối sống và sinh hoạt, anh A và chị C đã không còn chung sống từ tháng 10/2024 đến nay. Anh A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, vắng mặt tại phiên tòa, điều đó cho thấy anh A không còn quan tâm đến đời sống hôn nhân giữa anh và chị C, không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ gia đình. Như vậy có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa chị C và anh A đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho chị C và anh A ly hôn để hai bên sớm ổn định cuộc sống. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị C là có căn cứ chấp nhận, theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Lê Uyên T, sinh ngày: 30/8/2018; Lê Uyên N, sinh ngày: 25/8/2022 và Lê Minh P, sinh ngày: 04/10/2024. Chị C yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng ba con chung, anh A không có ý kiến. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện các con chung đang sống với chị C nên việc tiếp tục giao cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục... là cần thiết, bảo vệ được quyền lợi về mọi mặt của con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C.

[4] Về cấp dưỡng: Chị C đã được Tòa án giải thích việc người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại khoản 1 Điều 83 và khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên chị C không yêu cầu anh A thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản: Các đương sự không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về nghĩa vụ tài sản: Các đương sự tự khai không có nợ chung, nợ riêng, không đề nghị xem xét nên không giải quyết.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị C phải chịu án phí theo quy định.

[8] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

[9] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; điều 235 và điều 266 của Bộ luật tố tụng dân dân sự; áp dụng khoản 1 Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015;

Các Điều 51, 56, 71, 81, 82, 83, 84, 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị C, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn anh Lê Thọ A.

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị C và anh Lê Thọ A.

    Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị C và anh Lê Thọ A chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

  2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Lê Uyên T, sinh ngày: 30/8/2018; Lê Uyên N, sinh ngày: 25/8/2022 và Lê Minh P, sinh ngày: 04/10/2024 cho chị C tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục... Chị C không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con chung.

  3. Về tài sản: Các đương sự không tranh chấp nên không giải quyết.

  4. Về nghĩa vụ tài sản: Các đương sự khai không có, không xem xét giải quyết.

  5. Về án phí: Chị Phạm Thị C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số: 0009810 ngày 25/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Bình Dương. Chị C đã nộp đủ án phí.

  6. Nguyên đơn, bị đơn được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được cấp, tống đạt hoặc được niêm yết theo quy định.

  7. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (Văn bản hợp nhất số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020).

4

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSNDTp. Bến Cát;
  • - Chi cục THADSTp. B;
  • - UBND phường T, Tp. B
  • (số 47, ngày 07/4/2017) khi có hiệu lực;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Nga

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 57/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Phạm Thị C yêu cầu được ly hôn với ông Lê Thọ A
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger