Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÁNH LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 57/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18 – 06 – 2025

“Về việc: Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Ngọc Hữu.
  2. Bà Phan Thị Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Biện Việt Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 395/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 44/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị T, sinh năm 1991. (Vắng mặt, nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Bị đơn: Anh Trần Phú Đ, sinh năm 1982. (Vắng mặt không có lý do).

Cùng nơi cư trú: thôn A, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, ý kiến đã thu thập được trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Phan Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị T và anh Trần Phú Đ tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận vào ngày 22/02/2013. Sau khi kết hôn, chị T và anh Đ chung sống hạnh phúc được một khoảng thời gian thì những năm gần đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung, không hoà hợp nhau về mọi mặt của cuộc sống, anh chị tự sống ly thân với nhau nữa cũng khoảng 2 năm nay. Mặc dù gia đình hai bên đã thường xuyên tác động hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay chị T xác định không còn yêu thương đối với anh Đ nên chị T yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Chị T và anh Đ có 01 người con chung tên Trần Trà M, sinh ngày 29/6/2014 hiện nay do chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc. Khi ly hôn chị T yêu cầu Tòa án giao cháu M cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến khi thành niên, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, chị T không có yêu cầu nào khác trong vụ án.

[2]. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ đầy đủ Giấy triệu tập và các văn bản tố tụng nhưng bị đơn anh Trần Phú Đ không tham gia tố tụng và vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án không thu thập được lời khai của anh Đ và cũng không tiến hành hòa giải được. .

[3]. Các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:

Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp: 01 bản sao Căn cước công dân mang tên Phan Thị T; 01 bản sao Căn cước công dân mang tên Trần Phú Đ; 01 bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2013, quyển số 01/2013 ngày, tháng, năm đăng ký ngày 22/02/2013 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận; 01 bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Trần Trà M.

Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương xã Đ về quan hệ hôn nhân của vợ chồng chị Phan Thị T và anh Trần Phú Đ lập Biên bản xác minh ngày 28/4/2025.

[5]. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh:

  • Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Ý kiến đề nghị việc giải quyết vụ án: Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận tòa bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị T; xử cho chị Phan Thị T được ly hôn với anh Trần Phú Đ; buộc chị T phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nghe các đương sự trình bày, nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biểu ý kiến, quan điểm giải quyết vụ án. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Phan Thị T vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Trần Phú Đ mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.

[2]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Trong vụ án chỉ có yêu cầu của nguyên đơn chị Phan Thị T, yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con; ngoài ra không có yêu cầu nào khác của các đương sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” căn cứ theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.

Tranh chấp dân sự quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp; bị đơn nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị T, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào 01 bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2013, quyển số 01/2013 ngày, tháng, năm đăng ký ngày 22/02/2013 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận mà nguyên đơn chị Phan Thị T đã cung cấp; căn cứ lời khai phù hợp của nguyên đơn chị Phan Thị T; có đủ cơ sở xác định: chị Phan Thị T và anh Trần Phú Đ tự nguyện kết hôn và đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh Đ là hợp pháp. Vì vậy, chị T có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Nguyên đơn chị Phan Thị T xác định: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một khoảng thời gian thì những năm gần đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung, không hoà hợp nhau về mọi mặt của cuộc sống nên chị T, anh Đ tự sống ly thân với nhau khoảng hai năm nay, trong thời anh này anh chị không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Hiện nay, chị T xác định không còn yêu thương đối với anh Đ nữa vì vậy chị T yêu cầu được ly hôn.

Tại biên bản xác minh lập ngày 28/4/2025, địa phương xã Đ, huyện T cũng đã cung cấp thông tin: Chị T và anh Đ sau khi kết hôn thì về chung sống không hạnh phúc thường xuyên cải vả. Chị T và anh Đ cũng đã ly thân với nhau một khoảng thời gian. Ngoài ra, trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng chị T cương quyết yêu cầu giải quyết ly hôn, không có nguyện vọng đoàn tụ, anh Đ cũng không tham gia tố tụng, vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được.

Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định được: Vợ chồng chị T và anh P đã phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị T yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

[3.2] Về con chung:

Căn cứ vào 01 bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Trần Trà M và lời khai phù hợp của nguyên đơn chị Phan Thị T; có đủ cơ sở xác định được: Chị T và anh Đ có 01 người con chung tên là Trần Trà M, sinh ngày 26/9/2014. Khi ly hôn chị T yêu cầu Tòa án giao cháu M cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến khi thành niên. Quá trình tố tụng anh Trần Phú Đ đều vắng mặt không có lý do, không tham gia tố tụng để thực hiện quyền, trình bày ý kiến, nguyện vọng, yêu cầu cầu của mình về việc nuôi con.

Xét thấy: Yêu cầu nuôi con của chị T là hoàn toàn chính đáng; hiện tại cháu M đang ở cùng với gia đình của chị T, chị T đang nuôi dưỡng cháu M ổn định và cháu M cũng có nguyện vọng được tiếp tục ở với chị T; nhằm tránh sự xáo trộn cuộc sống và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt đối với con chưa thành niên cần chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cho chị Phan Thị T có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 người con chung tên Trần Trà M, sinh ngày 26/9/2014 cho đến khi thành niên có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Chị Phan Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc chị Phan Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Về ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận: Ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh là có căn cứ và phù hợp với quy định của Pháp luật nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144, các Điều 227, 228, 244, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116 và 117 Luật hôn nhân và gia đình.
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị T.

[1]. Về việc ly hôn: Chị Phan Thị T được ly hôn với anh Trần Phú Đ.

[2]. Về việc nuôi con: Giao cho chị Phan Thị T có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 người con chung tên là Trần Trà M, sinh ngày 29/6/2014 cho đến khi thành niên. Anh Lê Đức P không phải cấp dưỡng nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình.

[2]. Về án phí: Buộc chị Phan Thị T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào 300.00đồng tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai số 0006220 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; sau khi khấu trừ, chị Phan Thị T đã nộp đủ án phí.

[3]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tánh Linh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Đức Phú;
  • - CCTHADS huyện Tánh Linh;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Mạnh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 57/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger