|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18/6/2025.
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:+ Bà Nguyễn Thị Thùy
+ Bà Nguyễn Thị Hiền
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LâmHà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 139/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1995
Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng
Bị đơn: Anh Đoàn Minh T, sinh năm 1986
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(Chị H có mặt, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Đinh Thị H trình bày:
Chị H và anh T tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào năm 2023. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 3/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để cải thiện tình cảm vợ chồng nhưng vẫn không được nên chị H, anh T đã
sống ly thân từ tháng 3/2024 cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân tình cảm vợ chồng vẫn không thể cải thiện được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T. Ngoài ra, chị H xác định trong thời gian vợ chồng chung sống chưa có con chung cũng như chưa tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung nên không có yêu cầu gì.
Bị đơn anh Đoàn Minh T trình bày: Anh và chị H kết hôn vào năm 2023 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2024 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Anh và chị H đã nhiều lần nói chuyện vợ chồng giải quyết mâu thuẫn và cải thiện tình cảm vợ chồng nhưng vẫn không được. Do không tìm được biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng nên anh T và chị H đã sống ly thân từ năm 2024 đến nay. Nay chị H làm đơn yêu cầu ly hôn với anh thì anh đồng ý ly hôn. Ngoài ra, anh T xác định trong thời gian vợ chồng chung sống chưa có con chung cũng như chưa tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung nên không có yêu cầu gì. Đồng thời, anh T đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt anh.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Đinh Thị H, xử cho chị H được ly hôn với anh T. Về con chung, tài sản chung và nợ chung chị H xác định không có nên không đặt ra xem xét giải quyết. Chị Đinh Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: bị đơn anh Đoàn Minh T có đơn xin giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đoàn Minh T theo thủ tục chung.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị H và anh Đoàn Minh T xây dựng gia đình với nhau năm 2023, trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp. Cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một năm thì phát sinh mâu thuẫn và do không tìm được biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng nên chị H làm đơn xin ly hôn. Xét thấy, vợ chồng chị H và anh T phát sinh mẫu thuẫn là do vợ chồng thiếu sự thông cảm, chia sẻ với nhau trong trong cuộc sống vợ chồng cũng như trong việc xây dựng phát triển kinh tế gia đình. Do không tìm
được biện pháp cải thiện nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3/2024 đến nay. Mặc dù thời gian vợ chồng sống ly thân đã lâu nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không thể cải thiện được do mâu thuẫn kéo dài. Tại phiên tòa, chị H xác định mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn khả năng để cải thiện nên vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, còn anh T vắng mặt cũng đồng ý ly hôn. Do đó nếu cứ tiếp tục kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên đương sự do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Đinh Thị H, xử cho chị Đinh Thị H được ly hôn với anh Đoàn Minh T là hoàn toàn phù hợp.
Ngoài ra, chị H và anh T xác định quá trình chung sống anh chị chưa có con chung cũng như chưa tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết trong vụ án này. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp và có yêu cầu khởi kiện thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác theo thủ tục chung.
Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Đinh Thị H, xử cho chị Đinh Thị H và anh Đoàn Minh T được ly hôn.
Về án phí:
Chị Đinh Thị H phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Đinh Thị H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005165 ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: chị Đinh Thị H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đoàn Minh T vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Phạm Thị Thúy |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Phạm Thị Thúy |
Bản án số 57/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 57/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn chị Đinh Thị H ly hôn với anh Đoàn Minh T
