|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17/6/2025. V/v “Tranh chấp ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trãi.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Anh Việt
Bà Bùi Thanh Thúy
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Thiên Thanh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Cao Lâm - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 320/2022/TLST-HNGĐ ngày 29/11/2022, về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1963; Địa chỉ: Ấp H, xã A, huyện C, tỉnh Đ. Chỗ ở hiện nay: Số C, Đ, phường T, Quận G, Thành phố H; (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Lương Văn B, sinh năm 1966; Địa chỉ: Ấp H, xã A, huyện C, tỉnh Đ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Lương Văn B là Luật sư Trần Ngọc T - Công ty L - Đoàn Luật sư tỉnh V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà C và ông B qua mai mối và tìm hiểu nhau được khoảng 1 năm. Đến tháng 7 năm 1987, bà và ông Lương Văn B có tổ chức đám cưới rồi về sống chung với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian sống chung với nhau giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cải vã do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm cuộc sống, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ năm 2020, bà và ông B tranh chấp về khoản bồi thường đất quy hoạch đường cao tốc, ông B đánh đập và đe dọa bà nên bà lên sống cùng con gái tại Quận G, Thành phố H cho đến nay.
- Về con chung: Có 03 con chung là Lương Thị Huyền T1, sinh năm 1989; Lương Thị Ngọc T2, sinh năm 1992; Lương Thị Bích N, sinh năm 1995. Hiện các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quết.
- Về tài sản chung: Khi về sống chung thì bà có 04 chỉ vàng 18K, và cha, mẹ ruột bà có cho bà một số tiền. Sau đó chú chồng có kêu bán đất ruộng nên bà đem tiền và vàng mua được 05 công đất ruộng do bà đứng tên quyền sử dụng đất, khi đó bà còn sống chung vớ gia đình chồng, canh tác đất được khoảng 06 năm thì chuyển nhượng lại cho ông Chín B1 và về mua 05 công đất ở Xẻo L để canh tác, sau này bán lại cho anh chồng là ông Lương Văn T3 01 công đất, còn lại 04 công, bà và ông B canh tác đến năm 2000 thì có đổi với mẹ chồng 0,5 công còn lại 3,5 công thì bà bán lại cho bà Lê Thanh T4 với giá mỗi công là 18 chỉ vàng.
Ngoài ra năm 1991, bà và ông B được cho ra sống riêng và được mẹ chồng cho 5 công đất ruộng (đất Đ). Thời điểm đầu đất chỉ canh tác mỗi năm được 01 vụ đông xuân, vợ chồng bà phải bỏ công ra để cải tạo canh tác mỗi năm 03 vụ. Sau khi trang sửa thì diện tích đất được mở rộng là 5,5 công nhưng chị ông B vào lấy lại 2 công nên diện tích chỉ còn 3,5 công. Đến năm 2002 mẹ chồng bà yêu cầu vợ chồng bà đổi đất ra chỗ ở hiện nay thuộc ấp H, xã A, huyện C là 05 công. Trong đó, phần đất bà đổi là 3,5 công đất đình, 0,5 công đất bà mua được và bà trả tiền thêm 1 công đất cho đủ tổng cộng 5 công. Do đó, khi đổi đất năm 2002 thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi là hộ ông Lương Văn B và khi nhà nước thu hồi cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cấp cho bà và ông Lương Văn B thuộc các thửa 1216; thửa 2648; 2649; 2650 cùng tờ bản đồ số 35.
- Nợ chung: Bà Chính xác định bà và ông B không có nợ chung.
Nay bà Nguyễn Thị C yêu cầu:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị C yêu cầu ly hôn với ông Lương Văn B.
- Về con chung: Có 03 con chung là Lương Thị Huyền T1, sinh năm 1989; Lương Thị Ngọc T2, sinh năm 1992; Lương Thị Bích N, sinh năm 1995. Hiện các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quết.
- Về tài sản chung: Theo đơn khơi kiện, bà C yêu cầu chia tài sản chung đối với các thửa đất 1216; 2648; 2649; 2650 cùng tờ bản đồ số 35. Tại phiên tòa, bà C rút lại yêu cầu chia tài sản chung, do bà và ông B đã tự thỏa thuận về việc chia tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lương Văn B trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Thời gian chung sống ông B thống nhất theo lời trình bày của bà C. Ông và bà C qua mai mối, tìm hiểu nhau khoảng 1 năm. Đến tháng 7 năm 1987 thì tổ chức lễ cưới và sống chung với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn. Nay bà C yêu cầu ly hôn với ông thì ông đồng ý.
- Về con chung: Có 03 con chung là Lương Thị Huyền T1, sinh năm 1989; Lương Thị Ngọc T2, sinh năm 1992; Lương Thị Bích N, sinh năm 1995. Hiện các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quết.
- Về tài sản chung: Ông B và bà C đã tự thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản chung.
- Nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán đảm bảo đúng quy định của pháp luật: thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, về Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đảm bảo thực hiện đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm; Đối với nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị C và ông Lương Văn B. Do nguyên đơn đã rút lại yêu cầu chia tài sản chung. Do đó, đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị C khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lương Văn B, ông B có địa chỉ tại xã A, huyện C. Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố dụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị C và ông Lương Văn B cưới nhau và chung sống từ tháng 7/1987 nhưng không có đăng ký kết hôn. Nay bà Nguyễn Thị C yêu cầu ly hôn với ông Lương Văn B, ông B đồng ý ly hôn với bày C. Do đó, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị C và ông Lương Văn B.
[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị C và ông Lương Văn B có 03 con chung là Lương Thị Huyền T1, sinh năm 1989; Lương Thị Ngọc T2, sinh năm 1992; Lương Thị Bích N, sinh năm 1995. Hiên các con chung đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Theo đơn khởi kiện bà C có yêu cầu chia tài sản chung, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Bà C rút lại yêu cầu về việc chia tài sản chung. Do đó, Hồi đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu chia tài sản chung của nguyên đơn.
[2.4] Về nợ chung: Bà C và ông B xác định không có nợ chung nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C.
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị C và ông Lương Văn B là vợ chồng.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị C và ông Lương Văn B 03 con chung là Lương Thị Huyền T1, sinh năm 1989; Lương Thị Ngọc T2, sinh năm 1992; Lương Thị Bích N, sinh năm 1995. Hiện các con đã trưởng thành nên không xem xét giải quết.
- Về tài sản chung: Đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của bà Nguyễn Thị C.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị C và ông Lương Văn B xác định không có nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 17.180.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà C đã nộp theo biên lai thu số 0015363 ngày 29/11/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Bà C được nhận lại 16.880.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều: 6, 7, 7a, và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị C và ông Lương Văn B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Trãi |
Bản án số 57/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 57/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
