TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN Bản án số: 57/2025/HNGĐ-ST Ngày 10 tháng 10 năm 2025 (V/V: Tranh chấp hôn nhân và gia đình) | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thanh – Ông Nguyễn Đức Hào
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Tiến Hoàng - Thư ký tòa án nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Tình – Chức danh: Kiểm sát viên.
Trong các ngày 15/09/2025 và ngày 10/10/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 214/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 04 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXX-ST ngày 29/08/2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15/09/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2025/QĐST-HPT ngày 30/09/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thái Thị H - Sinh năm 1992
Địa chỉ: Xóm H, xã V, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T – Sinh năm 1985
Địa chỉ: Xóm H, xã V, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Phan Thị T1 – Sinh năm 1957(Mẹ của anh T). (Có mặt)
Địa chỉ: Xóm H, xã V, tỉnh Nghệ An
+ Bà Nguyễn Thị Đ – sinh năm 1971(Mẹ của chị H).(Có mặt)
Trú tại: Xóm T, xã V, tỉnh Nghệ An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn và trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa thì vụ án có nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Thái Thị H và anh Nguyễn Đình T đăng ký kết hôn ngày 25/04/2012 tại UBND xã L, huyện Y, Nghệ An(Nay là xã V, tỉnh Nghệ An).
Trước khi kết hôn chị H và anh T có quá trình tìm hiểu, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Sau ngày kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị H và anh T tính tình không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống. Cả sống không hòa thuận, cuộc sống thường xảy ra cãi vã nhau. Sự việc xảy ra thường xuyên, tuy đã được hai gia đình nội ngoại và B xóm hoà giải nhưng không đem lại kết quả gì. Mâu thuẫn kéo dài và ngày càng trầm trọng. Chị H và anh T đã sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay. Hiện tại chị H xác định không còn tình cảm với anh T nữa, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị H đề nghị Toà giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
- Về quan hệ con chung: Vợ chồng có với nhau 02 con chung là Nguyễn Đình H1 – Giới tính: Nam - sinh ngày 14/02/2013; Nguyễn Thị T2 – Giới tính: Nữ - sinh ngày 22/09/2014; Hiện tại con chung đang ở với chị H, ly hôn chị H có nguyện vọng chăm sóc nuôi dưỡng cả 02 con chung cho đến tuổi trưởng thành và chị H yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con cùng chị, mỗi tháng 2.000.000đ/con chung/tháng, cả 02 con chung là 4.000.000đ/con chung/tháng.
- Về quan hệ tài sản: Trong thời gian sống chung, chị H và anh Nguyễn Đình T tạo dựng được khối tài sản chung là nhà K-ốt và sân Patin tọa lạc trên thửa đất số: 952; Tờ bản đồ: 11; Diện tích: 436m2; Địa chỉ thửa đất: Xóm H, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An(Nay là xóm H, xã V, tỉnh Nghệ An) mang tên bà Phan Thị Tam . Nay yêu cầu Tòa án chia đôi giá trị khối tài sản chung, giao cho mỗi người một phần.
Tại phiên tòa chị H trình bày: Năm 2014 bà Phan Thị T1 có chuyển nhượng cho ông Phan Doãn Tứ P đất có diện tích 80m2 thuộc thửa đất số: 952; Tờ bản đồ: 11; Diện tích: 436m2; Địa chỉ thửa đất: Xóm H, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An mang tên bà Phan Thị T1 với giá 150.000.000 đồng. Sau đó ông T3 đi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không đủ diện tích tách thửa nên ông T3 không làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông T3 xin trả lại phần diện tích đất đã mua. Khi đó chị H, anh T đã mua lại phần diện tích đất đó của ông T3 và anh T đã trả số tiền 150.000.000 đồng cho ông T3. Đến năm 2016 bà Phan Thị T1 tiếp tục rao bán phần diện tích đất sát với phần diện tích đất của vợ chồng chị H, anh T đã mua của ông T3 với diện tích 150m2 thuộc thửa đất số: 952; Tờ bản đồ: 11; Diện tích: 436m2; Địa chỉ thửa đất: Xóm H, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An mang tên bà Phan Thị T1 với giá 200.000.000 đồng. Do bà T1 đang ở M nên anh T đã chuyển số tiền 200.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị S(là chị gái của anh T) để chị S chuyển tiền cho bà T1. Tổng 02 lần chị H, anh T mua diện tích đất của bà Phan Thị T1 là 230m2 thuộc thửa đất số: 952; Tờ bản đồ: 11; Diện tích: 436m2; Địa chỉ thửa đất: Xóm H, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An mang tên bà Phan Thị T1 với tổng số tiền là 350.000.000 đồng. Giờ ly hôn chị H không yêu cầu bà T1 trả số tiền 350.000.000 đồng mà chỉ đề nghị chia ½ phần diện tích đất đã mua của bà Phan Thị Tam .
Tại bản tự khai và tại phiên tòa anh Nguyễn Đình T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh T thừa nhận về thời gian và điều kiện kết hôn như chị Thái Thị H trình bày. Hiện tại anh T cũng không còn tình cảm với chị H nữa, nên chị H khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T, anh T cũng đồng ý ly hôn.
2
Về quan hệ con chung: Anh T nhất trí như lời trình bày của chị H về con chung và đề nghị giao nuôi con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành. Nhưng anh không đồng ý về việc cấp dưỡng nuôi con chung, bởi vì hiện tại anh T không có việc làm, không có thu nhập, nên không có khả năng cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản: Anh T thừa nhận trong thời gian sống chung, anh T và chị Thái Thị H tạo dựng được khối tài sản chung là K-ốt trước nhà, C1 vào nhà và sân Patin tọa lạc trên thửa đất số: 952; Tờ bản đồ: 11; Diện tích: 436m2; Địa chỉ thửa đất: Xóm H, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An(nay là xóm H, xã V, tỉnh Nghệ An) mang tên bà Phan Thị Tam . Anh T cũng nhất trí như yêu cầu của chị H, đó là yêu cầu Tòa án chia đôi giá trị khối tài sản chung, giao cho mỗi người một phần.
Về nợ chung: Anh T thừa nhận hiện tại vợ chồng đang nợ bà Nguyễn Thị Đ – sinh năm 1971, Trú tại: Xóm G, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An số tiền 135.000.000đ(Một trăm ba mươi lăm triệu đồng). Anh T xác định đây là nợ chung của 2 vợ chồng, nên anh T chấp nhận là sẽ có nghĩa vụ trả cho bà Đ ½ số nợ trên, tương đương với số tiền 67.500.000 đồng. Còn ½ khoản nợ còn lại anh T đề nghị Tòa án buộc chị H phải có trách nhiệm trả cho bà Đ.
Đối với việc chị Thái Thị H trình bày là vợ chồng có mua của bà Phan Thị T1(mẹ đẻ của anh T) một phần đất có diện tích là 230m2 thuộc thửa đất số: 952; Tờ bản đồ: 11; Diện tích: 436m2; Địa chỉ thửa đất: Xóm H, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An(nay là Xóm H, xã V, tỉnh Nghệ An) mang tên bà Phan Thị T1 với giá 350.000.000 đồng. Anh Nguyễn Đình T khẳng định không có việc vợ chồng mua đất của bà T1, từ trước đến nay bà T1 chưa bao giờ bán đất cho anh T và chị H. Anh T cũng chưa lần nào đưa cho ông Phan Doãn T3 số tiền 150.000.000 đồng, cũng như chưa lần nào đưa cho chị Nguyễn Thị S số tiền 200.000.000 đồng. Thửa đất số: 952; Tờ bản đồ: 11; Diện tích: 436m2; Địa chỉ thửa đất: Xóm H, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An(Nay là Xóm H, xã V, tỉnh Nghệ An) được UBND huyện Y cấp cho bà Phan Thị T1 ngày 14/06/2006 là tài sản của bà T1. Nên anh T đề nghị không đưa thửa đất này vào chia tài sản chung của 2 vợ chồng.
Tại bản tự khai và tại phiên tòa bà Phan Thị T1 trình bày:
Chị Thái Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Đình T(là con trai của bà T1). Về quan hệ tình cảm, quan hệ con chung và nợ chung của chị H, anh T thì bà T1 không có ý kiến gì. Còn về quan hệ tài sản chung thì trong thời gian sống chung, bà T1 đã đồng ý cho chị H và anh T làm K-ốt trước nhà, làm Cổng vào nhà và sân Patin tọa lạc trên thửa đất số: 952; Tờ bản đồ: 11; Diện tích: 436m2; Địa chỉ thửa đất: Xóm H, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An(nay là xóm H, xã V, tỉnh Nghệ An) mang tên bà Phan Thị Tam . Nay chị H, anh T không còn tình cảm với nhau nữa, 2 bên đều đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn bà T1 đề nghị Tòa án tạm giao K-ốt trước nhà, C1 vào nhà và sân P1 cho anh T quản lý sử dụng và buộc anh T trích ½ giá trị tài sản cho chị H. Còn bà T1 sẽ khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh T tháo giỡ tài sản để trả lại đất cho bà bằng 01 vụ án dân sự khác khi thấy cần thiết.
3
Tại bản tự khai bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Trước đây, vào khoảng năm 2022 chị Thái Thị H, anh Nguyễn Đình T có vay của bà Đ số tiền 20.000.000đ(Hai trăm triệu đồng). Nhưng hiện tại chị H, anh T đã trả cho bà Đ được số tiền 65.000.000đ(Sáu mươi lăm triệu đồng). Hiện tại chị H, anh T đang còn nợ bà Đ số tiền 135.000.000đ(Một trăm ba mươi lăm triệu đồng). Nay chị H, anh T ly hôn tại Tòa án, bà Đ đề nghị buộc chị H, anh T phải có trách nhiệm trả nợ cho bà Đ số tiền trên. Cụ thể: Buộc chị H trả cho bà Đ ½ số nợ tương đương với số tiền 67.500.000 đồng và buộc anh T trả cho bà Đ ½ số nợ tương đương với số tiền 67.500.000 đồng. Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Đ không yêu cầu chị H trả nợ cho bà, bà đề nghị Tòa án buộc anh T phải có trách nhiệm trả nợ cho bà Đ toàn bộ số tiền trên. Bởi vì anh T là người nhận tiền trực tiếp từ bà Đ, và anh T là người chi tiêu, sử dụng số tiền đó.
- Tại biên bản xác minh ông Phan Doãn T3 trình bày: Ông T3 từ trước đến nay không có giao dịch gì với bà Phan Thị T1 về mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ông T3 cũng chưa bao giờ nhận tiền bán đất từ chị Thái Thị H, anh Nguyễn Đình T
- Tại biên bản xác minh bà Nguyễn Thị S trình bày: Bà S từ trước đến nay không có giao dịch gì với bà Phan Thị T1 về mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bà S cũng chưa bao giờ nhận tiền bán đất từ chị Thái Thị H, anh Nguyễn Đình T.
Quá trình giải quyết vụ án, việc giữ nguyên hiện trạng đất và tài sản chung của 2 vợ chồng trên đất là cần thiết. Nên Tòa án nhân dân nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An(nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Nghệ An) đã ban hành Công văn số: 36/2025/CV-TA ngày 21/04/2025 gửi Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để giữ nguyên hiện trạng tài sản chung trên thửa đất để việc xem xét thẩm định, định giá tài sản được chính xác đúng luật định.
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn, bị đơn và tại Biên bản định giá thì trong thời kỳ hôn nhân, chị Thái Thị H, anh Nguyễn Đình T tạo dựng được khối tài sản chung sau:
- 01 (Một) sân Patin đổ bê tông trắng xi măng, có diện tích 204.6m² được làm từ năm 2015, có giá trị thành tiền sau khấu hao 3.000.000 đồng.
- Diện tích mái tôn lợp phía trên sân Patin là 214.6m². Phần mái tôn tráng kẽm 01 lớp có diện tích là 134m²; Phần mái tôn tráng kẽm 02 lớp có diện tích là 80.6m². Tổng trị giá thành tiền sau khấu hao là 14.500.000 đồng
- Phía Đông của sân Patin có 01 (Một) tường bao có diện tích là 16.12m²; phía trên tường bao có thưng mái tôn tráng kẽm có diện tích là 21.08m² được xây dựng từ năm 2015; có tổng trị giá thành tiền sau khấu hao là 3.500.000 đồng.
- Trước sân Patin có 02 (Hai) cánh cửa được hàn khung sắt, thép B40, có diện tích là 7.5m², có trị giá thành tiền sau khấu hao là 500.000 đồng.
4
- 01 (Một) K-ốt bán cánh sân Patin phía trên lợp mái tôn xốp chống nóng, có diện tích là 25.92m², nền (sàn) và tường phía tây của Kí ốt lát gạch men, có trị giá thành tiền sau khấu hao là 6.500.000 đồng
- Giữa sân Patin có 01 vách ngăn bằng phọc nhựa, làm từ năm 2022 có diện tích là 25.44m², có trị giá còn lại thành tiền sau khấu hao là 2.000.000 đồng.
- Trước Kí ốt có: 01 (Một) cửa cuốn có diện tích là 13.32m² và 01 (Một) cửa kính khung nhôm có có diện tích là 11.1m² làm từ năm 2022, có trị giá còn lại thành tiền sau khấu hao là 6.000.000 đồng.
- Phía Tây Kí ốt có tường bao có diện tích là 8.64m²; phía trên tường bao được thưng mái tôn tráng kẽm có diện tích 10.56m², làm từ năm 2020 có trị giá còn lại thành tiền sau khấu hao là 500.000 đồng.
- Hệ thống cổng gồm: + 02 trụ cổng đổ bê tông có tổng chiều cao 02 trụ cổng là 6m. Phía trên hai trụ cổng có mái che đổ trần có diện tích là 4m², trụ cổng và mái che làm từ năm 2012 có trị giá còn lại thành tiền sau khấu hao là 3.500.000 đồng.
+ 02 cánh cổng hàn bằng sắt hộp, có tổng diện tích 02 cánh là 7.2m², làm từ năm 2012 có trị giá còn lại thành tiền sau khấu hao là 2.500.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản là: 42.500.000 đồng
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị xử.
Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Thái Thị H và anh Nguyễn Đình T.
Về nuôi con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Đình H1 – Giới tính: Nam - sinh ngày 14/02/2013; Nguyễn Thị T2 – Giới tính: Nữ - sinh ngày 22/09/2014 cho chị Thái Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc anh Nguyễn Đình T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi tháng 2.000.000đ/con chung, 02 con chung là 4.000.000đ/ tháng.
Về chia tài sản chung: Tại biên bản định giá, tài sản chung của 2 vợ chồng có tổng giá trị là: 42.500.000 đồng. Đề nghị tạm thời giao cho anh T quản lý sử dụng, đồng thời buộc anh T phải trích chênh lệch ½ giá trị tài sản cho chị Thái Thị H tương đương với số tiền 21.250.000 đồng.
5
Đề nghị không chấp nhận đối với yêu cầu của chị Thái Thị H về việc đề nghị chia ½ phần diện tích đất đã mua của bà Phan Thị Tam .
Đề nghị Tòa giữ nguyên hiện trạng tài sản đang tranh chấp quy định tại khoản 8 Điều 114 của Bộ luật tố tụng dân sự đã được Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An(nay là Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Nghệ An) áp dụng tại Công văn số: 36/2025/CV-TA ngày 21/04/2025 đối với thửa đất số: 952; Tờ bản đồ: 11; Diện tích: 436m2; Địa chỉ thửa đất: Xóm H, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An(nay là xóm H, xã V, tỉnh Nghệ An) mang tên bà Phan Thị Tam .
Về nợ chung: Buộc anh Nguyễn Đình T phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền 67.500.000 đồng
Đối với ½ nợ chung của chị H trong khoản nợ chung vợ chồng, bà Nguyễn Thị Đ không yêu cầu chị H trả nợ nên đề nghị không xem xét.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí ly hôn, chia tài sản chung, nợ chung, cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại: Xóm H, xã V, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Nghệ An qui định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025.
- Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Chị Thái Thị H, anh Nguyễn Đình T tự nguyện tiến tới hôn nhân, đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An(nay là xóm H, xã V, tỉnh Nghệ An) được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 36/2012, ngày 25/04/2012 nên xác định hôn nhân giữa chị H, anh T là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình sống chung vợ chồng không tìm được tiếng nói, lối đi chung hôn nhân, khắc khẩu khi giao tiếp, các bên xử sự không chuẩn mực đối với nhau. Mâu thuẫn lên từ cuối năm 2020, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay. Chị H xác định đã mất hết tình cảm đối với anh T, hôn nhân đã thực sự tan rã, đổ vỡ không thể hàn gắn, chị H đề nghị giải quyết ly hôn anh T để ổn định cuộc sống. Anh T xác định vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân với thời gian khá lâu, nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T, anh T cũng đồng ý ly hôn, nên cần áp dụng Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình xử công nhận thỏa thuận, thuận tình ly hôn giữa chị Thái Thị H và anh Nguyễn Đình T.
- Về quan hệ con chung: Quá trình sống ly thân chị H đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng Nguyễn Đình H1, Nguyễn Thị T2. Tại phiên tòa chị H đề nghị giao con theo hiện trạng. Việc đề nghị giao con theo hiện trạng của chị H là vì chị không muốn thay đổi hay làm xáo trộn cuộc sống, sinh hoạt của các cháu, cháu H1, cháu T2 cũng có nguyện vọng ở với mẹ, vì vậy cần giao cho chị H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu H1, cháu T2.
Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
6
Anh T không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom giáo dục con chung, không ai được cản trở, ngăn cấm.
- Về tài sản chung và nợ chung:
- Về tài sản chung: Anh Nguyễn Đình T là con trai của bà Phan Thị T1 nên cần tạm giao nhà K-ốt và sân P1 có giá trị 42.500.000 đồng tọa lạc trên thửa đất số: 952; Tờ bản đồ: 11; Diện tích: 436m2; Địa chỉ thửa đất: Xóm H, xã V, tỉnh Nghệ An mang tên bà Phan Thị T1 cho anh Nguyễn Đình T quản lý sử dụng. Buộc anh T phải trích chênh lệch ½ giá trị về tài sản chung cho chị H. Bà Phan Thị T1 có thể khởi kiện anh T bằng 01 vụ án dân sự khác khi thấy cần thiết.
- Đối với số tiền 350.000.000 đồng mà chị H trình bày là mua đất của bà Phan Thị T1, chị không yêu cầu bà T1 trả nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với yêu cầu về đòi đất của chị Thái Thị H, hội đồng xét xử xét thấy:
+ Đối với 02 đoạn ghi âm mà chị H xuất trình, anh T, bà T1 thừa nhận đó là giọng nói của mình, nhưng 02 đoạn ghi âm không thể hiện rõ thời gian mua đất, mua diện tích bao nhiêu thuộc thửa nào? Tự cân của thửa đất ra sao?Mua với giá bao nhiêu? Đã trả được bao nhiêu tiền?
+ Đối với văn bằng số 109/2025/VB-TP ngày 23/09/2025 được lập bởi Văn phòng T4, nội dung của Vì bằng là chuyển tải 02 cuộc đàm thoại thành văn viết, lời văn thể hiện đàm thoại giữa 01 người đàn ông và 01 người đàn bà (đoạn ghi âm đầu vì bằng xem như giọng nói của người đàn ông là ông anh T và giọng nói của người đàn bà là chị H); (đoạn ghi âm sau vì bằng xem như giọng nói của cuộc đàm thoại là của 2 người đàn bà là giọng nói của chị H và giọng nói của bà T1). Vì bằng số: 109/2025/VB-TP ngày 23/09/2025 đã chuyển tải 02 đoạn ghi âm(không rõ nguồn gốc) thành 02 đoạn đàm thoại dưới dạng văn viết, trong khi chưa có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về 02 đoạn ghi âm là cuộc đàm thoại của chị Thái Thị H, anh Nguyễn Đình T và của chị Thái Thị H, bà Phan Thị Tam . Vì bằng thể hiện ý chí, nguyện vọng của chị Thái Thị H, không có sự tham gia lập vì bằng của anh T, bà T1, anh Nguyễn Đình T, bà Phan Thị T1 không thừa nhận nội dung trong vì bằng. Vì bằng số: 109/2025/VB-TP ngày 23/09/2025 không có giá trị chứng minh cho yêu cầu của chị Thái Thị H.
Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị Thái Thị H.
Đối với áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Nguyên đơn, bị đơn không có ý kiến gì về Biên bản xem xét thẩm định, Biên bản định giá tài sản và không yêu cầu định giá lại tài sản, Bà Phan Thị T1 có đơn đề nghị tháo giỡ biện pháp ngăn chặn, nên cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với thửa đất số: 952; Tờ bản đồ: 11; Diện tích: 436m2; Địa chỉ thửa đất: Xóm H, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An(nay là xóm H, xã V, tỉnh Nghệ An) mang tên bà Phan Thị T1
- Về nợ chung: Chị Thái Thị H và anh Nguyễn Đình T thừa nhận có nợ bà Nguyễn Thị Đ số tiền 135.000.000 đồng. Xác định đây là nợ chung của 2 vợ chồng
7
trong thời kỳ hôn nhân, bà Đ không yêu cầu chị H trả số nợ trên, bà Đ yêu cầu anh T phải có trách nhiệm trả số nợ trên, nên cần buộc anh Nguyễn Đình T phải trả nợ cho bà Nguyễn Thị Đ ½ số nợ trên tương đương với số tiền 67.500.000 đồng.
Về chi phí thẩm, định giá: số tiền 8.000.000 đồng đã nộp, buộc anh T phải chịu ½ chi phí thẩm định, định giá.
Về án phí: Buộc chị Thái Thị H phải nộp án phí ly hôn, án phí chia tài sản chung. Buộc anh Nguyễn Đình T phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con, án phí chia tài sản chung, nợ chung theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 55; Điều 59; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 107 và Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xử:
1.Về quan hệ tình cảm: Công nhận thỏa thuận thuận tình ly hôn giữa chị Thái Thị H và anh Nguyễn Đình T.
2.Về quan hệ con chung:
- Giao 02 con chung là Nguyễn Đình H1 – Giới tính: Nam - sinh ngày 14/02/2013; Nguyễn Thị T2 – Giới tính: Nữ - sinh ngày 22/09/2014 cho chị Thái Thị H cho chị Thái Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Đình T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị H mỗi tháng 2.000.000đ/con chung; 02 con chung là 4.000.000đ/tháng bắt đầu từ tháng 10 năm 2025 cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.
Anh Nguyễn Đình T không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom giáo dục con chung, không ai được cản trở, ngăn cấm.
Vì lợi ích của con các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Buộc anh Nguyễn Đình T phải trích chênh lệch và giá trị tài sản chung cho chị H số tiền 21.250.000 đồng
Buộc anh Nguyễn Đình T phải có trách nhiệm trả cho chị Thái Thị H số tiền: 4.000.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản.
Buộc anh Nguyễn Đình T phải có trách nhiệm trả số tiền nợ cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền: 67.500.000 đồng
Kể từ ngày chị Thái Thị H, bà Nguyễn Thị Đ làm đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền nói trên, nếu anh Nguyễn Đình T không thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Biện pháp khẩn cấp tạm thời: Áp dụng khoản 2 Điều 112 và Điều 138 của Bộ luật tố tụng dân sự. Huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp quy định tại khoản 8 Điều 114 của Bộ luật tố tụng dân sự đã được Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An(nay là Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Nghệ An) áp dụng tại Công văn số: 36/2025/CV-TA ngày 21/04/2025 đối với
8
thửa đất số: 952; Tờ bản đồ: 11; Diện tích: 436m2; Địa chỉ thửa đất: Xóm H, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An(nay là xóm H, xã V, tỉnh Nghệ An) mang tên bà Phan Thị Tam .
5. Về án phí: Áp dụng điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26; Điều 27 của nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Buộc chị Thái Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 1.062.500 đồng án phí chia tài sản. Án phí của chị H được trừ vào số tiền 5.300.000 đồng chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo biên lai nộp tiền số: 0006656 ngày 21/04/2024, chị H đã nộp đủ án phí. Trả lại cho chị H 3.937.500 đồng tiền tạm ứng án phí.
Buộc anh Nguyễn Đình T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, 1.062.500 đồng án phí chia tài sản và 3.375.000 đồng án phí dân sự đối với nghĩa vụ phải trả số tiền cho bà Đ.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Hưng |
9
10
11
Bản án số 57/2025/HNGĐ-ST ngày 10/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 57/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/10/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
