|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 06-6-2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm My.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Hưng;
- Bà Nguyễn Thị Bé Em.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoa Hạ - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre
tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ấm - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 83/2025/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05 tháng 5 năm 2025, giữa:
1. Nguyên đơn:
Bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1981;
Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn:
Ông Đỗ Thành L1, sinh năm 1979;
Nơi cư trú: Số B, khu phố B, phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
(Bà L có yêu cầu xét xử vắng mặt, ông L1 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đỗ Thành L1 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre vào ngày 18/4/2011. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến khoảng năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Hiện bà và ông L1 đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng với ông L1 không còn, không thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L1, bà không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: Có 03 con chung tên Đỗ Thị Ngọc H, sinh ngày 11/10/2011 (hiện đang sống cùng ông L1), Đỗ Thành T, sinh ngày 06/7/2014, Đỗ Thị Ngọc H1, sinh ngày 09/11/2017 (hiện đang sống cùng bà). Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi 02 con chung tên Đỗ Thành T và Đỗ Thị Ngọc H1, không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con; giao quyền trực tiếp nuôi con chung tên Đỗ Thị Ngọc H lại cho ông L1 và bà không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đỗ Thành L1 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, còn bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể:
- + Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mỹ L được ly hôn với ông Đỗ Thành L1. Ghi nhận bà L không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
- + Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con:
Bà Trần Thị Mỹ L được quyền trực tiếp nuôi hai con chung tên Đỗ Thành T, sinh ngày 06/7/2014 và Đỗ Thị Ngọc H1, sinh ngày 09/11/2017, hiện cháu T và cháu H1 đang sống cùng với bà L. Ghi nhận bà L không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con.
Ông Đỗ Thành L1 được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Đỗ Thị Ngọc H, sinh ngày 11/10/2011, hiện cháu H đang sống cùng với ông L1. Ông L1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Bà L khai không có nên không xét đến.
- + Về án phí tuyên theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được Tòa án xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Ông Đỗ Thành L1 là bị đơn có cư trú tại thành phố B, tỉnh Bến Tre nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà L là phù hợp.
Bị đơn ông Đỗ Thành L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhưng ông L1 không có mặt, vụ án không tiến hành mở phiên hòa giải được và tại phiên tòa ông L1 vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông L1 là phù hợp.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông L1 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà L thì sau khi kết hôn, bà và ông L1 chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2019
thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Nay bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông L1, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà L và ông L1 thực tế là có xảy ra và giữa hai người đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Với khoảng thời gian trên cũng đủ cho ông bà suy nghĩ lại tình cảm vợ chồng, thế nhưng cả hai cũng không tìm cho mình một biện pháp nào để khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã triệu tập ông L1 để tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông L1 không đến. Tại phiên tòa, ông L1 vẫn tiếp tục vắng mặt. Điều đó cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông L1 là đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ly hôn là biện pháp tốt nhất nhằm đem lại tự do cho cả hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông L1 là phù hợp theo quy định tại các Điều 51 và 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4.2] Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: Có 03 con chung tên Đỗ Thị Ngọc H, sinh ngày 11/10/2011 (hiện đang sống cùng ông L1), Đỗ Thành T, sinh ngày 06/7/2014, Đỗ Thị Ngọc H1, sinh ngày 09/11/2017 (hiện đang sống cùng bà L). Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi 02 con chung tên Đỗ Thành T và Đỗ Thị Ngọc H1, bà L không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con; giao quyền trực tiếp nuôi con chung tên Đỗ Thị Ngọc H lại cho ông L1 và bà L không cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy cháu T và cháu H1 từ trước đến nay sống cùng bà L và nguyện vọng của cháu T và cháu H1 cũng muốn tiếp tục sống cùng với bà L; còn cháu H thì đang sống cùng ông L1, nguyện vọng của cháu H cũng muốn tiếp tục sống cùng với ông L1. Mặt khác trong quá trình giải quyết vụ án, ông L1 cũng không có văn bản trình bày ý kiến tranh chấp về nuôi con chung với bà L. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho sự phát triển tốt về thể chất, lẫn tinh thần của các con chung, Hội đồng xét xử giao hai con chung tên Đỗ Thành T và Đỗ Thị Ngọc H1 cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận bà L không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con; giao con chung tên Đỗ Thị Ngọc H cho ông L1 tiếp tục nuôi dưỡng; ông L1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến.
[4.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà L khai không có nên không xét đến.
[5] Về phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bà L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các điều 147, 207, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ L đối với bị đơn ông Đỗ Thành L1 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, cụ thể tuyên:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mỹ L được ly hôn với ông Đỗ Thành L1. Ghi nhận bà L không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
1.2. Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con:
Bà Trần Thị Mỹ L được quyền trực tiếp nuôi hai con chung tên Đỗ Thành T, sinh ngày 06/7/2014 và Đỗ Thị Ngọc H1, sinh ngày 09/11/2017, hiện cháu T và cháu H1 đang sống cùng với bà L. Ghi nhận bà L không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con.
Ông Đỗ Thành L1 được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Đỗ Thị Ngọc H, sinh ngày 11/10/2011, hiện cháu H đang sống cùng với ông L1. Ông L1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con chung sau này, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà L khai không có nên không xét đến.
2. Về án phí: Bà Trần Thị Mỹ L phải chịu là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007950 ngày 05/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Bà L đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diễm My |
Bản án số 57/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 57/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Mỹ L - Đỗ Thành L
