Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2025/HNGĐ-ST

Ngày 03 tháng 6 năm 2025

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Ánh Nguyệt và bà Hoàng Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2025/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2025 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984;
  • ĐKHKTT: Số A, ngõ C L, tổ A + 20, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Hiện nay đang cư trú tại Nhật Bản.
  • - Bị đơn: Anh Đỗ Công S, sinh năm 1988;
  • Nơi cư trú: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình.
  • (Anh S, chị H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Đỗ Công S tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình, ngày 28/05/2013 và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 30/2013. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng những năm về sau anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, phương pháp nuôi dạy con cái và chi tiêu trong gia đình. Bên cạnh đó, anh S lại có tính vũ phu, những lần vợ chồng va chạm anh S đều chửi, đánh chị và xúc phạm đến mẹ đẻ chị. Anh S không có công ăn việc làm ổn định, toàn bộ chi tiêu trong gia đình đều do một mình chị gánh vác. Do không thể chịu đựng được nữa nên tháng 04/2017, chị đi xuất khẩu lao động tại nước Nhật Bản, từ đó tình cảm vợ chồng càng xa cách hơn không còn quan tâm đến nhau. Mặc dù hai bên đã cố gắng tìm giải pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng, hai gia đình cũng nhiều lần hòa giải nhưng không thành, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh S.

Về con chung: Chị và anh S có 02 con chung là Đỗ Hoàng A và Đỗ Duy A1, đều sinh ngày 10/12/2014. Hiện nay, cả hai con đang ở cùng anh S tại địa chỉ thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cả hai con cho anh S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị có trách nhiệm cấp dưỡng cho hai con là 4.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh S không có tài sản chung, không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai ngày 21/4/2025, bị đơn – anh Đỗ Công S trình bày:

Về hôn nhân: Anh S xác nhận thời gian, điều kiện và hoàn cảnh kết hôn như chị H trình bày là đúng. Sau kết hôn, anh chị chung sống vui vẻ, hạnh phúc, tuy thỉnh thoảng có phát sinh mâu thuẫn nhỏ nhưng vợ chồng cũng đã hòa giải được. Do kinh tế gia đình khó khăn nên năm 2017, chị H đi xuất khẩu lao động tại nước Nhật Bản. Vì sống xa nhau nên tình cảm vợ chồng lạnh nhạt dần và rạn nứt, chị H không liên lạc về cho anh và các con. Nay chị H khởi kiện xin ly hôn anh, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đồng ý ly hôn chị H.

Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là Đỗ Hoàng A và Đỗ Duy A1 đều sinh ngày 10/12/2014. Hiện nay, cả hai con đang ở cùng với anh. Khi ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao cả hai con cho anh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi hai con chung số tiền 4.000.000 đồng/ tháng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh S và chị H không có nợ chung, không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 06/5/2025, cháu Đỗ Hoàng A và cháu Đỗ Duy A1 trình bày như sau: Nếu bố, mẹ hai cháu ly hôn, hai cháu xin được ở với bố là anh S.

Tại biên bản xác minh ngày 06/5/2025, tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình, đại diện chính quyền địa phương cung cấp: Chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Công S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình vào ngày 28/5/2013, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 30/2013. Sau kết hôn, anh chị chung sống tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình và sinh được 02 con chung. Khi chung sống tại địa phương anh, chị có phát sinh mâu thuẫn hay không, có cãi nhau, đánh nhau hay không địa phương không biết vì không có ai báo cáo chính quyền địa phương hoặc cơ sở thôn về mâu thuẫn gia đình chị H, anh S. Sau này, chị H đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài nên địa phương không biết chị H, anh S có phát sinh mâu thuẫn hay không. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh S, anh S cũng đồng ý ly hôn, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh S và chị H có 02 con chung là cháu Đỗ Hoàng A và Đỗ Duy A1, hai cháu sinh cùng ngày 10/12/2014. Hiện nay, cả hai cháu đang ở cùng với anh S tại địa chỉ thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Địa phương đề nghị Tòa án giải quyết về con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Địa phương không nắm được chị H và anh S có những tài sản chung gì, chị H và anh S không có công nợ với tổ chức, đoàn thể nào tại địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

  • - Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân thủ đúng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Xử cho chị H được ly hôn anh S; xử giao 02 con chung Duy A1 và Hoàng A cho anh S nuôi dưỡng, buộc chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho 02 con chung là 4.000.000đồng/2 con/1 tháng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi; về tài sản chung không đặt ra giải quyết.
  • - Về án phí: Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn - chị Nguyễn Thị H có địa chỉ cư trú tại Nhật Bản, bị đơn - anh Đỗ Công S có địa chỉ cư trú tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

[1.2] Về sự có mặt của đương sự: Tại phiên toà, chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Công S đều vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228, điểm a khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Công S được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 28/5/2013 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, phương pháp nuôi dạy con cái và chi tiêu trong gia đình. Năm 2017, chị H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, tình cảm vợ chồng xa cách nên thiếu sự quan tâm, động viên, chia sẻ cùng nhau vì thế mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hòa giải được. Xét hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững nhưng hiện tại chị H xin ly hôn và anh S đồng ý ly hôn cho thấy cả hai không còn tha thiết với hôn nhân hiện tại, không mong muốn đoàn tụ gia đình. Từ các căn cứ trên, xác định hôn nhân giữa chị H và anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị H được ly hôn anh S là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Chị H và anh S có 02 con chung là Đỗ Hoàng A và Đỗ Duy A1, đều sinh ngày 10/12/2014. Hiện tại, cả hai con đang ở cùng với anh S. Chị H, anh S đều có nguyện vọng giao hai con chung cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng. Xét nguyện vọng của anh chị phù hợp với nguyện vọng của 02 con chung. Để đảm bảo quyền lợi, sự phát triển tốt về mọi mặt cũng như cuộc sống đã ổn định của con trẻ; căn cứ các quy định của pháp luật và điều kiện thực tế, Hội đồng xét xử cần giao cả hai con chung cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng, anh S yêu cầu chị H cấp dưỡng cho mỗi con mỗi tháng 2.000.000 đồng (4.000.000 đồng/02 con/1 tháng) cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi, chị H đồng ý, do đó cần buộc chị H cấp dưỡng cho các con chung như anh S yêu cầu là phù hợp. Chị H có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung không ai được cản trở. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng cho con được đặt ra khi các đương sự có yêu cầu.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh S không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[3] Về án phí: Chị H phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Chị H và anh S có quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 226, khoản 1 Điều 228, điểm a khoản 1 Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đỗ Công S.

2. Về con chung: Xử giao 02 con chung là Đỗ Hoàng A, sinh ngày 10/12/2014 và Đỗ Duy A1, sinh ngày 10/12/2014 cho anh Đỗ Công S trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc chị Nguyễn Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con Đỗ Hoàng A và Đỗ Duy A1, mỗi con 2.000.000 đồng/1 tháng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị H có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung mà không ai được cản trở. Chị H, anh S có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng cho con chung khi có yêu cầu.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng cho con. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000486 ngày 31/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí, chị H còn phải nộp 300.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Anh Đỗ Công S có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS tỉnh Thái Bình;
  • - UBND xã Vũ Vinh, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình (cơ quan đăng ký kết hôn);
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu HCTP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2025/HNGĐ-ST ngày 03/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 57/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị H ly hôn anh S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger