Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

 

Số: 57/2025/HC-PT

Ngày: 24/01/2025

V/v: khiếu kiện quyết định hành chính

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

-Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Quỳnh;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trọng Đoàn;

Ông Nguyễn Nam Thành ;

-Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Hoài, Thẩm tra viên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần là trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm trực tuyến vụ án hành chính thụ lý số 575/2024/TLPT-HC ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 19/2024/HC-ST ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 269/2025/QĐ-PT ngày 09 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1964 (có mặt)

Địa chỉ: Xóm Phố Dầu, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Người đại diện theo ủy quyền của ông D: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ 4, phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 04/7/2023 được công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Yến, BL 07), có mặt;

Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện ĐTT, tỉnh TNN. Địa chỉ: Phố Đình, thị trấn Hùng Sơn, huyện ĐTT, tỉnh TNN. Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Đỗ Văn Nguyên, chức vụ Phó Chủ tịch UBND huyện ĐT, tỉnh TNTN, vắng mặt;

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: - Bà Nguyễn Thị HH, sinh năm 1964 (vợ ông D) vắng mặt; - Anh Nguyễn Tiến G, sinh năm 1989 và chị Phạm Thị Th, sinh năm 1992 (là con trai và con dâu ông D) - vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt;- Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1987 (con trai ông D), vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; - Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1986 và chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1985 (là con trai và con dâu ông D), vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; Đều cùng địa chỉ: Xóm Phố Dầu, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ngày 17/3/2023, UBND huyện Đại Từ ban hành Quyết định số 835/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân để thực hiện dự án Đường Nam Sông Công kéo dài, đoạn từ ngầm tràn suối Mang đến Công ty Cổ phần may TNG, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, thuộc quy hoạch chi tiết điểm dân cư nông thôn Nam Sông Công, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Đợt 12, 2023) (viết tắt là Quyết định số 835), trong đó thể hiện gia đình ông Nguyễn Tiến Dũng, bà Nguyễn Thị Hạ bị thu hồi 512,6m² (150m² đất thổ cư và 362,6,m² CLN); hộ gia đình ông Nguyễn Tiến Giáp và bà Phạm Thị Thảo (vợ chồng con trai ông Dũng bà Hạ) bị thu hồi 58,7m² CLN (BL 26-29); Ngày 17/3/2023 của UBND huyện Đại Từ ban hành Quyết định số 836/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường giải phóng mặt bằng và phương án tái định cư dự án Đường Nam Sông Công kéo dài, đoạn từ ngầm tràn suối Mang đến Công ty Cổ phần may TNG, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, thuộc quy hoạch chi tiết điểm dân cư nông thôn Nam Sông Công, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Đợt 12, 2023) (viết tắt là Quyết định số: 836), và ngày 03/7/2023, UBND huyện Đại Từ ban hành Quyết định số 3175/QĐ-UBND ngày 03/7/2023 về việc phê duyệt kết quả phân lô đất tái định cư dự án: Đường Nam Sông Công kéo dài, đoạn từ ngầm tràn suối Mang đến Công ty Cổ phần may TNG, xã Tiên Hội (viết tắt là Quyết định số 3175) (BL 30-43), trong đó thể hiện: - Gia đình ông Nguyễn Tiến Dũng và bà Nguyễn Thị Hạ được bồi thường, hỗ trợ 3.089.662.509 đồng, thưởng bàn giao mặt bằng 7.725.200 đồng, tổng giá trị tiền được nhận là: 3.097.387.709 đồng; được giao đất tái định cư theo Quyết định số 1946/QĐ-UBND ngày 25/4/2022 tổng số 03 lô đất cho 03 hộ gia đình, gồm: gia đình ông Dũng bà Hạ ( Lô số 1A-TĐC-04, 121m²), ông Nguyễn Tiến Dinh và bà Nguyễn Thị Quyên- vợ chồng con trai ông Dũng bà Hạ (lô số 2A-TĐC-04, 95m²), ông Nguyễn Tiến Dự - con trai ông Dũng bà Hạ ((lô số 3A-TĐC-04, 95m² nhưng chỉ có 4m² là giao đất TĐC theo QĐ 1946, còn 91m² là giao đất có thu tiền sử dụng đất);- Gia đình ông Nguyễn Tiến Giáp và bà Phạm Thị Thảo được bồi thường, hỗ trợ 518.321.071 đồng, thưởng bàn giao mặt bằng 117.400 đồng, được giao đất có thu tiền sử dụng đất (lô số 4A-TĐC-04, 95m²) ;

Ngày 30/8/2023, ông Nguyễn Tiến Dũng khởi kiện đề nghị Tòa án:

  1. Huỷ một phần Quyết định số 835/QĐ-UBND, hành Quyết định số 836/QĐ-UBND và Quyết định số 3175/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ nêu trên.
  2. Buộc UBND huyện Đại Từ thực hiện việc thu hồi đất; Bồi thường về đất bị thu hồi tại Thửa số 108 Tờ bản đồ số 24 tại xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; Thực hiện chính sách hỗ trợ, tái định cư theo đúng quy định của pháp luật đối với người bị thu hồi đất, phải di chuyển chỗ ở cho 04 hộ gia đình gồm: Hộ gia đình ông Dũng và ba hộ con ông Dũng cùng làm nhà trên thửa đất bị thu hồi.

Lý do: ngày 08/10/1996 ông Nguyễn Tiến Dũng được UBND huyện Đại Từ cấp GCNQSD đất tạm thời (số sổ cấp 888/QSDĐ) đối với 07 thửa đất, trong đó có thửa đất số 108, Tờ bản đồ số 24 tại xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, khi đó chưa có số thửa, số tờ bản đồ, diện tích 150m² đất thổ cư (BL 61). Năm 2004, nhà nước lập hồ sơ địa chính: Đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập sổ địa chính. Thửa đất (Đất thổ cư) nêu trên được xác định là thửa đất số 108, tờ bản đồ số 24, diện tích 1.137 m² (Trong đó: 400 m² đất thổ cư, 737m² đất CLN-ghi trong sổ địa chính), được Nhà nước-UBND xã Tiên Hội lập sổ địa chính như sau:

- Tại sổ địa chính lập ngày 28/12/2004 của UBND xã Tiên Hội, huyện Đại Từ: Thể hiện trang số 5: Bản đồ số 24 (397410-7-c); số thứ tự: 108; Số thửa 108; Diện tích 1.137 m². Ký nhận: Chữ ký (ông Dũng ký) (BL 20-21).

- Bản đồ địa chính thể hiện: Thửa đất số 108; Tờ bản đồ số 24; Tên chủ sử dụng: Nguyễn Tiến Dũng – Có ghi: ONT + CLN 108/1137 (BL 19).

Căn cứ các tài liệu trên, thì ông Nguyễn Tiến Dũng cho rằng trước ngày 28/12/2004 diện tích đất thổ cư của ông Dũng chưa đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ theo quy định tại điểm 2 mục II Quyết định số 201/QĐ/ĐKTK ngày 14/7/1989 của Tổng cục quản lý ruộng đất (gọi tắt là Quyết định số 201). Tuy nhiên, UBND huyện Đại Từ vẫn cấp GCNQSDĐ tạm thời diện tích đất thổ cư cho ông Dũng, tự kê khai (TK), mục đích để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đất đai, buộc người sử dụng đất thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, nghĩa vụ thuế nhà đất cho Nhà nước, các năm 2009, 2010, 2011 gia đình ông Dũng phải nộp thuế nhà đất trên diện tích 1000m² (theo giấy báo thuế, biên lai nộp thuế kèm theo).

Từ ngày 28/12/2004 ông Dũng đã được Nhà nước công nhận quyền quản lý, sử dụng, đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 108, tờ bản đồ số 24, diện tích 1.137 m² (Trong đó: 400m² đất thổ cư, 737m² đất CLN) theo quy định tại khoản 3, Chương 2 Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục Địa chính hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 50 Luật đất đai năm 2003; quy định tại điểm i, điểm k, khoản 2, Điều 3 Nghị định số 84/2007/NĐPCP ngày 25/5/2007 (nay được quy định tại khoản 2, Điều 7 Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-BTNMT ngày 28/02/2022 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về; điểm b, khoản 1, Điều 100 Luật đất đai năm 2013). Đến nay ông Dũng chưa làm thủ tục cấp lại GCNQSDĐ đối với thửa đất trên.

Do đó, gia đình ông Dũng có đủ điều kiện được bồi thường về đất thửa số 108, tờ bản đồ số 24, khi Nhà nước thu hồi đất, được quy định tại khoản 1, Điều 75 Luật đất đai năm 2013 và diện tích đất ở phải là 400m². UBND huyện Đại Từ ban hành Quyết định thu hồi đất số 815 ngày 17/3/2023 đối với thửa đất số 108, tờ bản đồ số 24, với diện tích đất thu hồi chỉ có 150m² là đất ở là không phù hợp pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của gia đình ông Dũng.

* Về chính sách tái định cư đối với gia đình ông Dũng, ông Dũng cho rằng UBND huyện Đại Từ thực hiện không đúng pháp luật.

Tại thời điểm thu hồi đất gia đình ông Dũng gồm 04 hộ: (hộ gia đình ông Dũng bà Hạ và 03 hộ gia đình con trai ông Dũng đã tách hộ khẩu) cùng làm nhà trên diện tích đất bị thu hồi, đều được UBND huyện Đại Từ bồi thường tài sản nhà ở, công trình trên đất, riêng biệt từng hộ.

Tuy nhiên, tại Quyết định số 3175, theo đó gia đình ông Dũng, bà Hạ được tái định cư đất ở 121m² giá 7.180.000 đồng/m². Gia đình anh Nguyễn Tiến Dinh + chị Nguyễn Thị Quyên là hộ sinh sống cùng bố mẹ được tái định cư diện tích đất ở 95 m², giá 6.525.000 đồng/m². Gia đình anh Nguyễn Tiến Dự - là hộ sinh sống cùng bố mẹ được tái định cư diện tích đất ở 96 m². Trong đó 04 m² giá 6.525.000 đồng/m², 91 m² giá 10.000.000 đồng/m². Còn hộ anh Nguyễn Tiến Giáp + chị Phạm Thị Thảo cũng là hộ sinh sống trên cùng thửa đất với bố mẹ nhưng không được hưởng chính sách tái định cư nêu trên là không đúng quy định tại khoản 2, Điều 6, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

Con ông Dũng là Nguyễn Tiến Giáp và Phạm Thị Thảo làm nhà trên đất của ông Dũng, trên thửa số 108, theo ông Dũng từ trước đến nay không có bất kỳ một thủ tục giấy tờ gì biến động giảm diện tích liên quan đến quyền sử dụng đất thửa số 108. Và anh Giáp chị Thảo chưa bao giờ được Nhà nước công nhận QSDĐ đối với diện tích đất: “Theo GCN đã cấp: Số thửa: TK; Số tờ bản đồ: TK” theo Quyết định số 835. Mà diện tích đất thu hồi vẫn thuộc diện tích thửa đất số 108 nêu trên do ông Dũng vẫn là người quản lý.

UBND huyện Đại Từ không thực hiện chính sách hỗ trợ tiền đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu theo quy định tại khoản 4, Điều 86 Luật đất đai năm 2013; khoản 1, Điều 22 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; khoản 1, Điều 19; điểm c, khoản 1, Điều 23 Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND ngày 22/8/2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên.

Theo Quyết định số 1946/QD-UBND ngày 25/4/2022 của UBND huyện Đại Từ phê duyệt giá đất bồi thường và giá đất tái định cư. Theo đó:

  • Hộ gia đình ông Dũng bị thu hồi 150m² đất ở, giá bồi thường: 4.200.000 đồng/m². Tổng số tiền đất ở là 630.000.000 đồng, số tiền hỗ trợ là 34.700.000 đồng; Tổng được 664.700.000 đồng.
  • Hộ gia đình ông Dũng và anh Nguyễn Tiến Dinh được hưởng chính sách tái định cư theo Quyết định số 3175, với giá 7.180.000 đồng /m² và 6.525.000 đồng/m².

Nếu tính giá diện tích đất tái định cư tối thiểu có giá trị: 70 m² x 7.180.000 đồng/m² = 502.600.000 đồng Và 70 m² x 6.525.000 đồng/m² = 456.750.000 đồng. Tổng số tiền hai lô đất tái định cư tối thiểu = 959.350.000 đồng.

Như vậy, số tiền Nhà nước thu hồi 150m² không đủ nộp tiền sử dụng đất đối với 2 diện tích tái định cư tối thiểu 140m² còn phải bù tiền là: 959.350.000 đồng – 664.700.000 đồng = 294.650.000 đồng.

Theo quy định trên, hai bố con ông Dũng được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu.

- Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ có ý kiến tại Văn bản số 2989/UBND-VP ngày 19/12/2023 (BL 128) như sau:

Dự án Đường Nam Sông Công kéo dài, đoạn từ ngầm tràn suối Mang đến Công ty Cổ phần may TNG, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, thuộc quy hoạch chi tiết điểm dân cư nông thôn Nam Sông Công, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (quy hoạch được UBND huyện phê duyệt tại Quyết định số 4890/QĐ-UBND ngày 14/9/2020), ngày 04/5/2020 Hội đồng nhân dân huyện Đại Từ ban hành Nghị quyết số 13/NQ-HĐND về việc phê duyệt chủ trương đầu tư các công trình khởi công mới năm 2020 trên địa bàn huyện Đại Từ (Được điều chỉnh tại Nghị quyết số 25/NQ-HĐND ngày 16/11/2020 và Nghị quyết số 48/NQ-HĐND ngày 22/12/2021 về việc điều chỉnh chủ trương đầu tư công trình: Đường Nam Sông Công kéo dài, đoạn từ ngầm ràn suối Mang đến Công ty Cổ phần may TNG, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, thuộc quy hoạch chi tiết điểm dân cư nông thôn Nam Sông Công, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ”.

Ngày 09/7/2020, Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên ban hành Nghị quyết số 15/NQ-HĐND về việc Điều chỉnh quy mô, địa điểm, số lượng dự án, công trình trong điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) tỉnh Thái Nguyên. UBND tỉnh Thái Nguyên phê duyệt kế hoạch sử dụng đất các năm 2021, 2022, 2023 trong đó thửa đất của gia đình ông Nguyễn Tiến Dũng thu hồi để thực hiện dự án năm 2023 được phê duyệt kế hoạch sử dụng đất tại Quyết định số 3414/QĐ-UBND ngày 30/12/2022.

Dự án Đường Nam Sông Công kéo dài, đoạn từ ngầm tràn suối Mang đến Công ty Cổ phần may TNG, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, thuộc quy hoạch chi tiết điểm dân cư nông thôn Nam Sông Công, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ là dự án thuộc đối tượng Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 62 Luật đất đai năm 2013. UBND huyện đã thực hiện các trình tự thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư theo quy định.

Quá trình thu hồi đất: Ông Nguyễn Tiến Dũng và bà Nguyễn Thị Hạ có thửa đất số 108 tờ bản đồ 24, diện tích trong chỉ giới thuộc dự án Đường Nam Sông Công kéo dài, đoạn từ ngầm tràn suối Mang đến Công ty Cổ phần may TNG, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, thuộc quy hoạch chi tiết điểm dân cư nông thôn Nam Sông Công, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên là 512,6 m² đất ONT + CLN.

UBND huyện Đại Từ đã lập Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án: Đường Nam Sông Công kéo dài, đoạn từ ngầm tràn suối Mang đến Công ty Cổ phần may TNG, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, thuộc quy hoạch chi tiết điểm dân cư nông thôn Nam Sông Công, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đồng thời phê duyệt kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm để thực hiện dự án.

UBND huyện Đại Từ đã ban hành Thông báo thu hồi đất số 394/TB-UBND ngày 30/12/2020 và Thông báo số 627/TB-UBND ngày 31/12/2022 để thực hiện giải phóng mặt bằng dự án trong đó có thửa đất số 108, tờ bản đồ số 24 của gia đình ông Nguyễn Tiến Dũng và bà Nguyễn Thị Hạ. Thông báo thu hồi đất đã được Trung tâm phát triển quỹ đất gửi đến ông Nguyễn Tiến Dũng và Nguyễn Thị Hạ, công khai niêm yết tại UBND xã và cơ sở xóm.

Ngày 31/12/2020 Trung tâm phát triền quỹ đất đã tiến hành kiểm kê đất đai, tài sản, hoa màu trên đất đối với thửa đất số 108, tờ bản đồ số 24, diện tích 512,6 m² đất ONT +CLN (Trong đó 150 m² đất ONT + 362,6 M² đất CLN), gia đình ông Dũng đã ký kết quả kiểm kê.

Trung tâm phát triển quỹ đất đã lập phương án bồi thường, hỗ trợ. Trung tâm phát triển quỹ đất đã cùng với UBND, UBMTTQ xã Tiên Hội tiến hành công khai niêm yết phương án bồi thường, hỗ trợ cho gia đình ông Dũng, tại buổi làm việc gia đình ông Dũng đã nhận được phương án bồi thường, hỗ trợ. Sau khi các cơ quan thẩm định hồ sơ thu hồi đất, phương án bồi thường, hỗ trợ, ngày 17/3/2023, UBND huyện Đại Từ đã ban hành quyết định số 835/QĐ-UBND về việc thu hồi thửa đất số 108, tờ bản đồ số 24, diện tích 512,6 m² đất ONT + CLN (Trong đó 150 m² đất ONT + 362,6 M2 đất CLN), của ông Nguyễn Tiến Dũng và bà Nguyễn Thị Hạ. Quyết định số 835/QĐ-UBND ngày 17/3/2023 của UBND huyện đã được công khai tại UBND xã Tiên Hội và cơ sở xóm Phố Dầu và gửi cho gia đình ông Nguyễn Tiến Dũng và bà Nguyễn Thị Hạ.

Quá trình thu hồi đất của gia đình ông Nguyễn Tiến Dũng và bà Nguyễn Thị Hạ đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 67, 69 Luật đất đai năm 2013, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5 2014 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Điều 26 Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND ngày 22/8/2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

Quá trình phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

Căn cứ Quyết định thu hồi đất của UBND huyện đối với thửa đất cử gia đình ông Dũng. UBND huyện đã phê duyệt bồi thường, hỗ trợ tại Quyết định số 836/QĐ-UBND ngày 17/3/2023 trong đó số tiền bồi thường, hỗ trợ của ông Dũng là: 3.097.387.709 đồng và phê duyệt tái định cư.

Phương án bồi thường, hỗ trợ được tính theo đơn giá bồi thương nhà ở, công trình kiến trúc gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tại Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 26/01/2022 của UBND tỉnh Thái Nguyên; Giá đất được áp dụng theo Quyết định số 46/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh Thái Nguyên về Bảng giá đất giai đoạn 2020-2024 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; Quyết định số 1946/QĐ-UBND ngày 25/4/2022 của UBND huyện Đại Từ về việc phê duyệt giá đất để thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng và giá đất tái định cư dự án đường Nam Sông Công kéo dài, đoạn từ ngầm tràn suối Mang đến Công ty Cổ phần may TNG, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ và dự án Xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư nông thôn số 1 xã Tiên Hội, huyện Đại Từ (BL46); Quyết định số 7088/QĐ-UBND ngày 15/11/2022 của UBND huyện Đại Từ (BL 44); Đơn giá bồi thường đối với cây trồng khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện một số công trình, dự án trên địa bàn huyện Đại Từ tại Quyết định số 6497/QĐ-UBND ngày 05/11/2021 của UBND huyện. Quyết định số 836/QĐ-UBND ngày 17/3/2023 của UBND huyện đã được công khai tại UBND xã Tiên Hội và cơ sở xóm Phố Dầu và gửi cho gia đình ông Nguyễn Tiến Dũng và bà Nguyễn Thị Hạ.

Quá trình thực hiện tái định cư.

Gia đình ông Nguyễn Tiến Dũng và bà Nguyễn Thị Hạ bị thu hồi đất ở, phải di chuyển chỗ ở trong diện tích đất ở của ông Dũng có các cặp vợ chồng là con của ông Dũng bà Hạ cùng chung sống trên thửa đất thu hồi là gia đình ông Nguyễn Tiến Dinh và gia đình ông Nguyễn Tiến Dự. Do đó, gia đình ông Dũng và các con của ông Dũng được tái định cư theo quy định. Các gia đình đã có đơn đăng ký nguyện vọng tái định cư và được UBND xã Tiên Hội xác nhận đủ điều kiện để tái định cư theo quy định. UBND huyện đã ban hành phương án tái định cư tại Quyết định số 836/QĐ-UBND ngày 17/3/2023 và Quyết định phê duyệt kết quả phân lô tái định cư số 3175/QĐ-UBND ngày 03/7/2023 theo quy định của pháp luật. Trong đó phê duyệt kết quả phân 03 lô đất tái định cư như sau:

  • Lô đất số A-TĐC-04:1, diện tích 121m² của ông Nguyễn Tiến Dũng và bà Nguyễn Thị Hạ (UBND huyện Đại Từ ban hành Quyết định số 7122/QĐ-UBND ngày 16/11/2023 về việc giao đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Tiến Dũng và bà Nguyễn Thị Hạ sử dụng đất).
  • Lô đất số A-TĐC-04:2, diện tích 95m² của ông Nguyễn Tiến Dinh và bà Nguyễn Thị Quyên. (UBND huyện Đại Từ ban hành Quyết định số 5488/QĐ-UBND ngày 29/9/2023 về việc giao đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Tiến Dinh và bà Nguyễn Thị Quyên sử dụng đất).
  • Lô đất số A-TĐC-04:3, diện tích 95m² của ông Nguyễn Tiến Dự. (UBND huyện Đại Từ ban hành Quyết định số 7054/QĐ-UBND ngày 13/11/2023 về việc giao đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Tiến Dự và bà Hà Kim Chiến sử dụng đất).

UBND huyện Đại Từ đã ban hành Quyết định thu hồi đất số 835/QD-UBND ngày 17/3/2023 và phê duyệt bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Quyết định số 836/QĐ-UBND ngày 17/3/2023 và Quyết định số 3175/QĐ-UBND về việc phê duyệt kết quả phân lô tái định cư đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện các ý kiến, kiến nghị của gia đình ông Nguyễn Tiến Dũng và bà Nguyễn Thị Hạ đã được UBND huyện Đại Từ, các cơ quan chuyên môn của huyện, UBND xã Tiên Hội trả lời, giải đáp tại các buổi làm việc và bằng văn bản gửi đến gia đình ông Dũng đảm bảo đúng quy định. Đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đứng về phía ông Dũng: Đều nhất trí với ý kiến và yêu cầu khởi kiện do ông Dũng đã trình bày.

Tại Bản án hành chính thẩm số 19/2024/HC-ST ngày 22/8/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã xử:

Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tiến Dũng về việc:

  • Huỷ một phần Quyết định số 835/QĐ-UBND ngày 17/3/2023 của UBND huyện Đại Từ về việc thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân để thực hiện dự án Đường Nam Sông Công kéo dài, đoạn từ ngầm tràn suối Mang đến Công ty Cổ phần may TNG, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, thuộc quy hoạch chi tiết điểm dân cư nông thôn Nam Sông Công, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Đợt 12, 2023).
  • Huỷ một phần Quyết định số 836/QĐ-UBND ngày 17/3/2023 của UBND huyện Đại Từ về việc phê duyệt phương án bồi thường giải phóng mặt bằng và phương án tái định cư dự án Đường Nam Sông Công kéo dài, đoạn từ ngầm tràn suối Mang đến Công ty Cổ phần may TNG, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, thuộc quy hoạch chi tiết điểm dân cư nông thôn Nam Sông Công, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Đợt 12, 2023).
  • Huỷ một phần Quyết định số 3175/QĐ-UBND ngày 03/7/2023 của UBND huyện Đại Từ về việc phê duyệt kết quả phân lô đất tái định cư dự án: Đường Nam Sông Công kéo dài, đoạn từ ngầm tràn suối Mang đến Công ty Cổ phần may TNG, xã Tiên Hội.
  • Buộc UBND huyện Đại Từ thực hiện việc thu hồi đất; Bồi thường về đất bị thu hồi; Thực hiện chính sách hỗ trợ, tái định cư, theo đúng quy định của pháp luật đối với người bị thu hồi đất, phải di chuyển chỗ ở cho 04 hộ gia đình gồm: Hộ gia đình ông Nguyễn Tiến Dũng và ba hộ con ông Dũng cùng làm nhà trên thửa đất bị thu hồi.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và tuyên quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/9/2024, ông Nguyễn Văn Tiến – là người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện là ông Nguyễn Tiến Dũng có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm phía người khởi kiện ông Nguyễn Tiến Dũng giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Dũng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên toà phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về tố tụng: Ngày 05/9/2024, ông Nguyễn Văn Tiến là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Tiến Dũng kháng cáo toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm số 19/2024/HC-ST ngày 22/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên là trong thời hạn quy định tại Điều 206 Luật Tố tụng hành chính. Ông Nguyễn Văn Tiến đã nộp thay ông Nguyễn Tiến Dũng số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tại Biên lai số 0000123 ngày 17/9/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên (BL 815). Do đó, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm là đúng quy định pháp luật.

[2] Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, phía người khởi kiện là ông Nguyễn Tiến Dũng xác định phạm vi nội dung kháng cáo là đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án hành chính sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông hủy một phần các quyết định, bao gồm: Quyết định số 835/QĐ-UBND ngày 17/3/2023 của Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ về việc thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân để thực hiện dự án Đường Nam Sông Công kéo dài, đoạn từ ngầm tràn suối Mang đến Công ty Cổ phần may TNG, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, thuộc quy hoạch chi tiết điểm dân cư nông thôn Nam Sông Công, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Đợt 12, 2023); Quyết định số 836/QĐ-UBND ngày 17/3/2023 của Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ về việc phê duyệt phương án bồi thường giải phóng mặt bằng và phương án tái định cư dự án Đường Nam Sông Công kéo dài, đoạn từ ngầm tràn suối Mang đến Công ty Cổ phần may TNG, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, thuộc quy hoạch chi tiết điểm dân cư nông thôn Nam Sông Công, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Đợt 12, 2023); và Quyết định số 3175/QĐ-UBND ngày 03/7/2023 của Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ về việc phê duyệt kết quả phân lô đất tái định cư dự án: Đường Nam Sông Công kéo dài, đoạn từ ngầm tràn suối Mang đến Công ty Cổ phần may TNG, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ; Buộc UBND huyện Đại Từ thực hiện việc thu hồi đất; Bồi thường về đất bị thu hồi tại Thửa số 108 Tờ bản đồ số 24 tại xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; Thực hiện chính sách hỗ trợ, tái định cư theo đúng quy định của pháp luật đối với người bị thu hồi đất, phải di chuyển chỗ ở cho 04 hộ gia đình gồm: Hộ gia đình ông Dũng bà Hạ và ba hộ gia đình các con ông Nguyễn Tiến Dũng cùng làm nhà trên thửa đất bị thu hồi gồm hộ anh Nguyễn Tiến Giáp chị Phạm Thị Thảo, hộ anh Nguyễn Tiến Dinh chị Nguyễn Thị Quyên và hộ anh Nguyễn Tiến Dự, vì cho rằng phải xác định diện tích đất ở cho gia đình ông Dũng là 400m² chứ không phải là 150m² như Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ và Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định; đối với giá bồi thường và giá đất giao tái định cư cho gia đình ông Dũng theo ông Dũng là chưa đúng, UBND huyện Đại Từ không áp dụng chính sách tái định cư cho vợ chồng con trai ông là hộ anh Nguyễn Tiến Giáp chị Phạm Thị Thảo là không đúng.

[3] Về nguồn gốc Thửa đất số 108, tờ bản đồ số 24, diện tích 512,6 m² đất ONT + CLN (Trong đó 150m² đất ONT + 362,6m2 đất CLN), của ông Nguyễn Tiến Dũng và bà Nguyễn Thị Hạ bị thu hồi để thực hiện Dự án Đường Nam Sông Công kéo dài, đoạn từ ngầm tràn suối Mang đến Công ty Cổ phần may TNG, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên: vợ chồng ông Nguyễn Tiến Dũng được thừa kế tài sản từ ông bà ngoại của ông Dũng là cụ Nguyễn Văn Sung (chết năm 1994) và cụ Nguyễn Thị Vạn (chết năm 1992).

[3.1] Năm 1996, ông Dũng được UBND huyện Đại Từ cấp GCNQSD đất số vào sổ cấp 888/QSDĐ ngày 08/10/1996, bao gồm 07 thửa, trong đó có thửa đất: Số thửa (Không có); Số tờ bản đồ (Không có), Diện tích: 150m²; Mục đích sử dụng: Đất thổ cư; Thời hạn sử dụng: Tạm thời, mang tên ông Nguyễn Tiến Dũng. Diện tích thửa đất thổ cư của gia đình ông Dũng nằm trong quy hoạch xây dựng khu dân cư nông thôn.

[3.2] Năm 2004, Nhà nước đo đạc bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính. Thửa đất Thổ cư ghi trong GCNQSD đất cấp năm 1996 được xác định là thửa đất số 108, tờ bản đồ số 24, diện tích: 1.137m² (Trong đó: 400 m² đất thổ cư, 737m² đất: CLN). Được ghi trong sổ địa chính, được UBND xã Tiên Hội lập theo quy định, người sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Tiến Dũng (đã ký nhận).

[4] Xét yêu cầu khởi kiện yêu cầu xác định lại diện tích đất ở là 400m² như trong bản đồ địa chính lập năm 2004, Hội đồng xét xử xét thấy: Năm 1996, UBND huyện Đại Từ cấp GCNQSD đất cho ông Nguyễn Tiến Dũng, là được thực hiện theo quy định của Luật đất đai năm 1993 và Quyết định số 201-QĐ/ĐKTK ngày 14/7/1989 của Tổng cục quản lý ruộng đất về việc ban hành quy định cấp GCNQSD đất; Thông tư số 302/TT-ĐKTK ngày 28/10/1989 của Tổng cục quản lý ruộng đất về hướng dẫn thi hành Quyết định về việc cấp GCNQSD đất. Tòa án đã yêu cầu UBND huyện Đại Từ cung cấp hồ sơ cấp GCNQSD đất đối với thửa đất nêu trên của ông Dũng cho Tòa án nhưng do công tác lưu trữ của địa phương còn hạn chế nên đến nay UBND huyện Đại Từ vẫn chưa tìm được hồ sơ để cung cấp cho Tòa án.

[4.1] Việc trên GCNQSD đất ghi đối với phần diện tích đất thổ cư 150m² là do ông Dũng tự khai và được Nhà nước công nhận. GCNQSD đất sau khi được cấp, đã giao cho gia đình ông Dũng quản lý sử dụng. Trong suốt quá trình sử dụng đất, đến thời điểm năm 2004 khi Nhà nước lập bản đồ địa chính ghi nhận số ô, thửa, diện tích, loại đất đối với các hộ gia đình tại địa phương, cụ thể đối với thửa đất có đất ở của ông Dũng là thửa đất số 108, tờ bản đồ số 24, diện tích: 1.137m² (Trong đó: 400 m² đất thổ cư, 737m² đất: CLN) và cho đến trước thời điểm Nhà nước thu hồi đất, ông Dũng không có ý kiến gì, không có văn bản kiếu nại, cũng như đơn đề nghị cấp lại đất ở theo hạn mức. Như vậy, hộ ông Dũng đã đồng thuận với việc Nhà nước công nhận cho ông diện tích đất ở là 150m² như trong GCNQSD đất được cấp năm 1996. Mặt khác, theo ông Dũng gia đình vẫn thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đất ở với diện tích 150m² từ năm 1996 đến khi đất bị thu hồi. GCNQSD đất cấp 1996 không bị ông Dũng khiếu nại hay khởi kiện, đến nay chưa bị cơ quan có thẩm quyền nào sửa chữa, thu hồi hay hủy bỏ, do vậy GCNQSD đất nay có giá trị pháp lý.

[4.2] Trong quá trình giải quyết vụ án, thì ngoài GCNQSD đất, trích lục bản đồ địa chính năm 2004, sổ thống kê diện tích, loại đất, chủ sử dụng theo hiện trạng được lập năm 2004 thì người khởi kiện không cung cấp được cho Tòa án một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 100 Luật đất đai và Điều 18 Nghị định 43/2014.

[4.3] Tại biên bản kiểm kê đất bị thu hồi được lập ngày 31/11/2020, ông Nguyễn Tiến Dũng và bà Nguyễn Thị Hạ đại diện hộ gia đình đã tiến hành kê khai xác nhận đối với thửa đất có nhà ở, cụ thể: Loại đất: ONT+CLN; Bản đồ 299: số tờ: 0, số thửa: 0; bản đồ địa chính: số tờ 24, số thửa 108; bản đồ thu hồi: số tờ 24, số thửa 108; diện tích sử dụng: 1.137m2; diện tích thu hồi: 512,6m²; tình trạng pháp lý: có GCNQSD đất (trong đó có 150m² đất ONT và 362,6m² đất CLN); hiện trạng sử dụng: Nhà ở. Số liệu kê khai đã được các cơ quan chức năng của huyện Đại Từ kiểm tra và cùng với chủ sử dụng đất (ông Dũng bà Hạ) ký xác nhận (BL 452).

[4.4] Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 100 Luật đất đai thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp là một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất, là căn cứ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và là căn cứ để xác định loại đất theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật đất đai. Bản đồ địa chính và sổ địa chính lập năm 2004 (tức là sau ngày 15/10/1993) không phải là một trong những giấy tờ về đất đai theo khoản 1 Điều 100 Luật đất đai, Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và không phải là căn cứ để xác định loại đất theo quy định tại Điều 11 Luật đất đai.

[4.5] Như vậy, UBND huyện Đại Từ căn cứ vào GCNQSD đất tạm thời cấp năm 1996 cho ông Nguyễn Tiến Dũng, kết quả trích lục bản đồ địa chính, kết quả kiểm tra, xác minh số liệu về Thửa đất 108 tờ bản đồ 24, diện tích thu hồi 512,6m² và xác định loại đất gồm: 150m² ONT; 362,6m² CLN theo mục đích sử dụng ghi trên GCNQSD đất tạm thời là đúng quy định tại Điều 11, Điều 103 Luật đất đai và Điều 24 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính Phủ.

[5] Về việc bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất: Theo Quyết định số 836/QĐ-UBND ngày 17/3/2023 của UBND huyện Đại Từ thì gia đình ông Nguyễn Tiến Dũng được bồi thường, hỗ trợ cụ thể:

[5.1] Hộ ông Nguyễn Tiến Dũng và bà Nguyễn Thị Hạ tổng giá trị phê duyệt là 3.097.387.709 đồng và 01 lô đất tái định cư. Trong đó: Bồi thường về đất: 1.391.460.000 đồng; Bồi thường, hỗ trợ tài sản: 1.603.524.709 đồng; Hỗ trợ ổn định đời sống: 4.500.000 đồng; Hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề: 55.477.800 đồng; Các khoản hỗ trợ di chuyển: 34.700.000 đồng; Thưởng bàn giao mặt bằng: 7.725.200 đồng.

[5.2] Ông Nguyễn Tiến Dự: bồi thường hỗ trợ tài sản: 827.273.348 đồng và 01 lô đất tái định cư.

[5.3] Hộ ông Nguyễn Tiến Dinh và bà Nguyễn Thị Quyên tổng giá trị phê duyệt là 700.719.545 đồng và 01 lô đất tái định cư. Trong đó: Bồi thường cây cối, hoa màu: 539.400 đồng; Bồi thường, hỗ trợ tài sản: 700.180.145 đồng.

[5.4] Hộ ông Nguyễn Tiến Giáp và bà Phạm Thị Thảo tổng giá trị phê duyệt là 518.438.471 đồng. Trong đó: Bồi thường về đất: 123.270.000 đồng; Bồi thường, hỗ trợ tài sản: 368.069.971 đồng; Hỗ trợ ổn định đời sống: 18.000.000 đồng; Hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề: 8.981.100 đồng; Thưởng bàn giao mặt bằng: 117.400 đồng. Riêng hộ ông Giáp, bà Thảo do đất thu hồi không được xác định là đất ở nên không được giao đất tái định cư.

[5.5] Điểm d khoản 5 sửa đổi điểm c và bổ sung điểm d vào khoản 2 Điều 23 Quyết định số 20/2016/QĐ-UBND ngày 06/7/2016 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên ban hành kèm theo Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND ngày 22/8/2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên quy định như sau: “Trường hợp hộ gia đình, cá nhân thuộc diện tái định cư mà diện tích đất ở tái định cư được giao lớn hơn diện tích đất ở được bố trí tái định cư theo quy định tại Điều 5 của Quyết định này, thì phần diện tích đất ở vượt mức đất ở tái định cư phải nộp tiền sử dụng đất theo giá đất được tính trên cơ sở chi phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và các điều kiện thực tế đối với từng dự án do UBND tỉnh quy định cụ thể”. Trong vụ án này, gia đình ông Nguyễn Tiến Dũng bị thu hồi đất ở là 150m² cộng với suất tái định cư tối thiểu đối với khu vực xã miền núi là 70m², do đó diện tích đất gia đình ông Dũng (hộ ông Nguyễn Tiến Dũng bà Nguyễn Thị Hạ, hộ ông Nguyễn Tiến Dinh bà Nguyễn Thị Quyên, hộ ông Nguyễn Tiến Dự) được giao tổng diện tích là 311m² thì có 220m² được tính giá đất tái định cư, chưa bao gồm chi phí cơ sở hạ tầng không qua đấu giá (đây là diện tích tối đa đất ở tái định cư được giao so với diện tích đất ở bị thu hồi 150+70); 91m² giá đất tái định cư bao gồm chi phí cơ sở hạ tầng không qua đấu giá là đúng quy định tại Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND ngày 22/8/2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên.

[5.6] Đối với hộ ông Nguyễn Tiến Giáp và bà Phạm Thị Thảo là trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện bồi thường về đất ở vì diện tích đất bị thu hồi không được xác định là đất ở, vì vậy UBND huyện Đại Từ không áp dụng chính sách giao đất tái định cư như hộ ông Nguyễn Tiến Dũng đối với hộ ông Nguyễn Tiến Giáp và tại Công văn số 3703/UBND – TNMT ngày 05/12/2024, UBND huyện Đại Từ xác định hộ ông Nguyễn Tiếp Giáp và bà Phạm Thị Thảo được bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất nông nghiệp và được Nhà nước giao đất ở nhưng có thu tiền sử dụng đất là đúng quy định Luật đất đai, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ và đúng quy định tại Điều 6 Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND ngày 22/8/2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên.

[5.7] Như vậy, UBND huyện Đại Từ đã thực hiện đúng việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và áp đơn giá bồi thường, giá đất tái định cư theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ và khoản 1 Điều 5 Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND ngày 22/8/2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên; Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 26/01/2022 của UBND tỉnh Thái Nguyên; Quyết định số 1946/QĐ-UBND ngày 25/4/2022 của UBND huyện Đại Từ về việc phê duyệt giá đất để thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng và giá đất tái định cư dự án đường Nam Sông Công kéo dài, đoạn từ ngầm tràn suối Mang đến Công ty Cổ phần may TNG, xã Tiên Hội, huyện Đại Từ và dự án Xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư nông thôn số 1 xã Tiên Hội, huyện Đại Từ; Quyết định số 46/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy định về Bảng giá đất giai đoạn 2020-2024 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; Quyết định số 7088/QĐ-UBND ngày 15/11/2022 của UBND huyện Đại Từ về việc phê duyệt giá đất không thông qua đấu giá đất; Quyết định số 6497/QĐ-UBND ngày 05/11/2021 của UBND huyện về đơn giá bồi thường đối với cây trồng khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện một số công trình, dự án trên địa bàn huyện Đại Từ.

[6] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận, ông Nguyễn Tiến Dũng phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Điều 10, 11, 62, 63, 66, 69, 79, 100 và Điều 103 của Luật đất đai năm 2013; Điều 24 nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND ngày 22/8/2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Bác kháng cáo của ông Nguyễn Tiến Dũng; Giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 19/2024/HC-ST ngày 22/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
  2. Về án phí: ông Nguyễn Tiến Dũng phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà ông Nguyễn Văn Tiến đã nộp thay ông Dũng là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0000123 ngày 17/9/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên. Ông Dũng đã nộp đủ tiền án phí phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của Bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Trọng Đoàn Trần Thị Quỳnh
Nguyễn Nam Thành  

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cục THADS tỉnh Thái Nguyên;
  • - UBND huyện Đại Từ;
  • - UBND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, HCTP ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Quỳnh

TIỂU HỒ SƠ

Biên lai thu thuế nhà đất và tiền nộp thuế không thể hiện nộp bao nhiêu diện tích đất ở, chỉ thể hiện là thu thuế đất 1000m và quy ra thóc, bl 13-18

Đơn đề nghị xác nhận việc tặng cho có xác nhận của xã về việc ông Dũng bà Hạ tặng cho vợ chồng anh Giáp 58,7m để làm nhà ở và anh Giáp đã xây nhà trên đất từ năm 2010 (BL 55)

Danh sách ban hành thông báo thu hồi đất kèm thwo TB 394 thể hiện có 04 hộ gia đình được thông báo thu hồi thửa 108 Tờ 24 là Dũng, Giáp, Dự, Dinh, 68-74

QĐ số 8831 về giá đất nông nghiệp thực hiện BT, bl 217

QÐ 1946, bl 430

QĐ 7088, bl 434

Tại biên bản xác nhận tỷ lệ đất nông nghiệp đã bị mất thì ông Dũng đang sử dụng 1344m, thu hồi 446,1, chiếm tỷ lệ 33,1%

Ông Dũng bà Hạ đã nhận 1.814.798.184 đồng ngày 14/7/2023, bl 285, 286

Anh Dinh nhận 182.887.177 ngày 14-7-2023, bl 295-296

Anh Dự nhận 827.273.348 đồng BT tài sản trên đất., b1634

Anh Giáp nhận 518.438.471, bl 639-640

Anh Dinh, anh Giáp, anh Dự, ông Dũng đã có QĐ giao đất và cấp giấy đối với các suất đất giao, bl 647-654

 

Biên bản kiểm kê đất có chữ ký của ông Nguyễn Tiến Dũng thể hiện: thửa 108 có DT 1137m nhưng chỉ thu hồi 512,6m trong đó chỉ có 150m là thổ cư, 362.6m là CLN, bl 452

Biên bản kiểm tra xác định nguồn gốc, ranh giới thửa đất có diện tích tăng so với hồ sơ pháp lý thể hiện UBND xã Tiên Hội xác định: DT tăng 987m tại Thửa số 108 là loại đất CLN có nguồn gốc cùng thửa đất ở, do khi kê khai cấp GCN gia đình ông Dũng không kê khai diện tích đất này nên không được cấp GCN năm 1996 (BL 474)

Tài liệu bồi thường thể hiện Thửa đất ông Giáp sử dụng là thửa 613 Tờ 24, 58,7m, BL 564 thể hiện đất CLN, số thửa là TK (tách thửa)

TRÍCH LUẬT ĐẤT ĐAI VỀ TÁI ĐỊNH CƯ

Điều 3; Giải thích từ ngữ

29. Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.

định của Chính phủ.

Điều 79. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau:

a) Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở thì Nhà nước bồi thường bằng tiền;

b) Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.

2. Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất.

3. Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường về đất.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 83. Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

1. Nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất:

a) Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ;

b) Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật.

2. Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm:

a) Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất;

b) Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở;

c) Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở;

d) Hỗ trợ khác.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 86. Bố trí tái định cư cho người có đất ở thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở

1. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện giao trách nhiệm bố trí tái định cư phải thông báo cho người có đất ở thu hồi thuộc đối tượng phải di chuyển chỗ ở về dự kiến phương án bố trí tái định cư và niêm yết công khai ít nhất là 15 ngày tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bố trí tái định cư.

Nội dung thông báo gồm địa điểm, quy mô quỹ đất, quỹ nhà tái định cư, thiết kế, diện tích từng lô đất, căn hộ, giá đất, giá nhà tái định cư; dự kiến bố trí tái định cư cho người có đất thu hồi.

2. Người có đất thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất có dự án tái định cư hoặc có điều kiện bố trí tái định cư. Ưu tiên vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng.

Phương án bố trí tái định cư đã được phê duyệt phải được công bố công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư.

3. Giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư, giá bán nhà ở tái định cư do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.

4. Trường hợp người có đất thu hồi được bố trí tái định cư mà tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu.

Chính phủ quy định cụ thể suất tái định cư tối thiểu cho phù hợp với điều kiện từng vùng, miền và địa phương.

Điều 87. Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với các trường hợp đặc biệt

1. Đối với dự án đầu tư do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư mà phải di chuyển cả cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống, kinh tế - xã hội, truyền thống văn hóa của cộng đồng, các dự án thu hồi đất liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì Thủ tướng Chính phủ quyết định khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

2. Đối với dự án sử dụng vốn vay của các tổ chức quốc tế, nước ngoài mà Nhà nước Việt Nam có cam kết về khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì thực hiện theo khung chính sách đó.

3. Đối với trường hợp thu hồi quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 65 của Luật này thì người có đất thu hồi được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để ổn định đời sống, sản xuất theo quy định của Chính phủ.

TRÍCH NGHỊ ĐỊNH 47-CP

Điều 6. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở

Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 79 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:

a) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư;

b) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.

2. Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại Khoản 1 Điều này mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình thực tế tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình.

3. ........

4. Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

5..........

6. .........

Điều 22. Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở

Việc hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 83 của Luật Đất đai được thực hiện như sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận đất ở, nhà ở tái định cư mà số tiền được bồi thường về đất nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu quy định tại Điều 27 của Nghị định này thì được hỗ trợ khoản chênh lệch giữa giá trị suất tái định cư tối thiểu và số tiền được bồi thường về đất

2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tự lo chỗ ở thì ngoài việc được bồi thường về đất còn được nhận khoản tiền hỗ trợ tái định cư. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ quy mô diện tích đất ở thu hồi, số nhân khẩu của hộ gia đình và điều kiện cụ thể tại địa phương quy định mức hỗ trợ cho phù hợp.

LUẬT CƯ TRÚ 2020

Điều 10. Quyền, nghĩa vụ của chủ hộ và thành viên hộ gia đình về cư trú

1. Những người cùng ở tại một chỗ ở hợp pháp và có quan hệ gia đình là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh ruột, chị ruột, em ruột, cháu ruột thì có thể đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú theo hộ gia đình.

2. Người không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này nếu có đủ điều kiện đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại cùng một chỗ ở hợp pháp theo quy định của Luật này thì được đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú vào cùng một hộ gia đình.

3. Nhiều hộ gia đình có thể đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại cùng một chỗ ở hợp pháp.

4. Chủ hộ là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ do các thành viên hộ gia đình thống nhất đề cử; trường hợp hộ gia đình không có người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì chủ hộ là người được các thành viên hộ gia đình thống nhất đề cử; trường hợp các thành viên hộ gia đình không đề cử được thì chủ hộ là thành viên hộ gia đình do Tòa án quyết định. Trường hợp hộ gia đình chỉ có một người thì người đó là chủ hộ.

5. Chủ hộ có quyền và nghĩa vụ thực hiện, tạo điều kiện, hướng dẫn thành viên hộ gia đình thực hiện quy định về đăng ký, quản lý cư trú và những nội dung khác theo quy định của Luật này; thông báo với cơ quan đăng ký cư trú về việc trong hộ gia đình có thành viên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 29 của Luật này.

6. Thành viên hộ gia đình có quyền và nghĩa vụ thống nhất đề cử chủ hộ; thực hiện đầy đủ quy định về đăng ký, quản lý cư trú.

Điều 23. Địa điểm không được đăng ký thường trú mới

1. Chỗ ở nằm trong địa điểm cấm, khu vực cấm xây dựng hoặc lấn, chiếm hành lang bảo vệ quốc phòng, an ninh, giao thông, thủy lợi, đê điều, năng lượng, mốc giới bảo vệ công trình hạ tầng kỹ thuật, di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng, khu vực đã được cảnh báo về nguy cơ lở đất, lũ quét, lũ ống và khu vực bảo vệ công trình khác theo quy định của pháp luật.

2. Chỗ ở mà toàn bộ diện tích nhà ở nằm trên đất lấn, chiếm trái phép hoặc chỗ ở xây dựng trên diện tích đất không đủ điều kiện xây dựng theo quy định của pháp luật.

3. Chỗ ở đã có quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chỗ ở là nhà ở mà một phần hoặc toàn bộ diện tích nhà ở đang có tranh chấp, khiếu nại liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng nhưng chưa được giải quyết theo quy định của pháp luật.

4. Chỗ ở bị tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; phương tiện được dùng làm nơi đăng ký thường trú đã bị xóa đăng ký phương tiện hoặc không có giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.

5. Chỗ ở là nhà ở đã có quyết định phá dỡ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Điều 25. Tách hộ

1. Thành viên hộ gia đình được tách hộ để đăng ký thường trú tại cùng một chỗ ở hợp pháp khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; trường hợp có nhiều thành viên cùng đăng ký tách hộ để lập thành một hộ gia đình mới thì trong số các thành viên đó có ít nhất một người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Được chủ hộ, chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đồng ý, trừ trường hợp thành viên hộ gia đình đăng ký tách hộ là vợ, chồng đã ly hôn mà vẫn được cùng sử dụng chỗ ở hợp pháp đó;

c) Nơi thường trú của hộ gia đình không thuộc trường hợp quy định tại Điều 23 của Luật này.

Điều 82. Xác định chứng cứ

1. Tài liệu đọc được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.

2. Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan đến việc thu âm, thu hình đó.

3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

4. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc.

5. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác lưu trữ âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa.

6. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định.

7. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định.

8. Kết quả định giá, thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định.

9. Văn bản xác nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản xác nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định.

10. Các nguồn khác theo quy định của pháp luật được xác định là chứng cứ.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2025/HC-PT ngày 24/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về khiếu kiện quyết định hành chính

  • Số bản án: 57/2025/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: khiếu kiện quyết định hành chính
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến D khiếu kiện quyết định hành chính
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger