Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 57/2025/DS-ST

Ngày: 13- 02 - 2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thành Thật và ông Lý Tuấn Phong.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều D - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1118/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 820/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2025/QĐST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S,

Địa chỉ trụ sở: Lầu 8, số B - B N, phường H, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D1; Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Chí T; Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần S – chi nhánh A.

Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Trung Q; Chức vụ: CV.QLN – Phòng kiểm soát rủi ro Ngân hàng thương mại cổ phần S – chi nhánh A. Theo Giấy uỷ quyền ngày 01/10/2024.

Địa chỉ liên hệ: Số C T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Hồ Nhựt T1, sinh năm 1991,

Cư trú: Số A, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 26/9/2022, giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) và ông Hồ Nhựt T1 có ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 17239505 (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ vào thu nhập của ông T1, Ngân hàng đã đồng ý mở thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000đ, vay không thời hạn, lãi suất 31.2%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Trong quá trình sử dụng thẻ, ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 31.910.000đ và đã thực hiện thanh toán cho Ngân hàng được tổng số tiền 19.100.000đ, trong đó: vốn 3.899.631đ, lãi 13.602.369đ, phí 1.598.000đ. Đến ngày 10/5/2024, ông T1 không còn thực hiện trả nợ cho Ngân hàng mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ làm việc, nhắc nhở nhưng ông T1 không có thiện chí trả nợ.

Tính đến ngày 13/02/2025, ông T1 còn nợ tổng số tiền 38.833.996đ, cụ thể: Vốn là 28.010.369đ; Lãi trong hạn là 7.215.751đ; Lãi quá hạn là 3.607.876đ.

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu ông Hồ Nhựt T1 phải trả tổng số tiền tạm tính đến ngày 13/02/2025 là 38.833.996đ, cụ thể: Vốn là 28.010.369đ; Lãi trong hạn là 7.215.751đ; Lãi quá hạn là 3.607.876đ. Đồng thời ông T1 phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh tính từ ngày 14/02/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Bị đơn ông Hồ Nhựt T1 không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham dự phiên tòa do Tòa án triệu tập.

Tại phiên toà:

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Điều

91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 38.833.996đ, trong đó: nợ gốc 28.010.369đ và nợ lãi 10.823.627đ (trong đó: lãi trong hạn 7.215.751đ và lãi quá hạn 3.607.876đ) và tiền lãi tiếp tục phát sinh theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 17239505 ngày 26/9/2022 đã ký.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng thương mại cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) khởi kiện yêu cầu ông Hồ Nhựt T1 trả tiền vốn vay và lãi phát sinh theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 17239505 ngày 26/9/2022. Do đó, xác định đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông T1 đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố L nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không tham gia phiên tòa. Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Ngân hàng thương mại cổ phần S và ông Hồ Nhựt T1 ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 17239505 ngày 26/9/2022 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) vào với nội dung: Ngân hàng đồng ý mở thẻ tín dụng cho ông T1 với hạn mức sử dụng 30.000.000đ, vay không thời hạn, lãi suất 31.2%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 31.910.000đ và đã thực hiện thanh toán cho Ngân hàng được tổng số tiền 19.100.000đ, trong đó: vốn 3.899.631đ, lãi 13.602.369đ, phí 1.598.000đ. Do ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T1 phải trả tổng số tiền tính đến ngày 13/02/2025 là 38.833.996đ, trong đó: nợ gốc 28.010.369đ và nợ lãi 10.823.627đ (trong đó: lãi trong hạn 7.215.751đ và lãi quá hạn 3.607.876đ), đồng thời yêu cầu ông T1 phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 17239505 ngày 26/9/2022 trên số dư nợ chưa thanh toán cho đến khi trả dứt nợ.

[3.2] Hội đồng xét xử xét, Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 17239505 ngày 26/9/2022 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) giữa Ngân hàng và ông T1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên hợp đồng này có giá trị pháp lý. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, phía ông T1 đã không thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi suất

đúng hạn là vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T1 có trách nhiệm thanh toán vốn, lãi tính đến ngày 13/02/2024 là 38.833.996đ, trong đó: nợ gốc 28.010.369đ và nợ lãi 10.823.627đ (trong đó: lãi trong hạn 7.215.751đ và lãi quá hạn 3.607.876đ) và tiền lãi tiếp tục phát sinh theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 17239505 ngày 26/9/2022 đã ký là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 và Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Quá trình giải quyết vụ án, ông Hồ Nhựt T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T1 không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không tham dự phiên tòa và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án nên phải chịu hậu quả pháp lý của việc không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh. Do đó, Tòa án căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

[5.1] Ông Hồ Nhựt T1 phải chịu 1.941.700đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[5.2] Ngân hàng thương mại cổ phần S được nhận lại 840.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001672 ngày 22/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 463, Điều 466 và Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Khoản 16 Điều 4; khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • - Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với ông Hồ Nhựt T1.

Buộc ông Hồ Nhựt T1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 13/02/2025 là 38.833.996đ, trong đó: nợ gốc 28.010.369đ và nợ lãi 10.823.627đ (trong đó: lãi trong hạn 7.215.751đ và lãi quá hạn 3.607.876đ).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 13/02/2025) ông Hồ Nhựt T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 17239505 ngày 26/9/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Hồ Nhựt T1 phải chịu 1.941.700đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng thương mại cổ phần S được nhận lại 840.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001672 ngày 22/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

3. Về quyền kháng cáo:

Ngân hàng thương mại cổ phần S và ông Hồ Nhựt T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TPLX;
  • - THADS TPLX;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2025/DS-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 57/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger