TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2025/DS-PT Ngày: 27-5-2025 V/v: Tranh chấp về thừa kế tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Thẩm phán:
- Bà Trần Thị Mỹ Hải
- Bà Đoàn Thị Kiều Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan; Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2025/TLPT - DS ngày 04 tháng 4 năm 2025, về tranh chấp thừa kế tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2024/DS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An bị kháng nghị.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2025/QĐPT-DS ngày 21/4/2025 và quyết định hoãn phiên toà số 189/2025/DSPT ngày 09/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Hồ H, sinh năm 1976; Nơi cư trú: K, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Các bị đơn:
- Anh Hồ H4, sinh năm 1983. Vắng mặt.
- Anh Hồ Văn N, sinh năm 1985. Vắng mặt.
- Anh Hồ Văn L, sinh năm 1987. Vắng mặt.
- Anh Hồ Văn L1, sinh năm 1987. Vắng mặt.
- Anh Hồ Văn N1, sinh năm 1990. Vắng mặt.
- Anh Hồ Văn Q, sinh năm 1993. Vắng mặt.
- Anh Hồ Văn T, sinh năm 1996. Có mặt.
Cùng trú tại: K, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1981 (vợ anh Hồ H); Nơi cư trú: K, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Chị Hồ Thị L2, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Xóm I (xóm A cũ), xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Chị Hồ Thị H2, sinh năm 1980; Nơi ĐKHKTT: Số nhà A, tổ A, phường N, huyện T, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Tổ A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Chị Bùi Thị T1, sinh năm 1987 (vợ anh Hồ H4). Vắng mặt.
- Chị Đoàn Thị T2, sinh năm 1993 (vợ anh Hồ Văn N). Vắng mặt.
- Chị Hồ Thị Thanh T3, sinh năm 1986 (vợ anh Hồ Văn L). Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1991 (vợ anh Hồ Văn L1). Vắng mặt.
- Chị Hà Thị H3, sinh năm 1995 (vợ anh Hồ Văn N1). Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị T5, sinh năm 1997 (vợ anh Hồ Văn Q). Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Hương N2, sinh năm 2001 (vợ anh Hồ Văn T). Vắng mặt.
Cùng trú tại: K, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
* Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai; quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Hồ H trình bày:
Anh là con trai của cụ Hồ C và cụ Nguyễn Thị T6. Anh không biết cụ C và cụ T6 có đăng ký kết hôn hay không, kết hôn vào thời gian nào. Quá trình chung sống hai cụ có tất cả 12 con chung gồm: Hồ Thị L2, Hồ H, Hồ Thị H2, Hồ H4, Hồ Văn N, Hồ Văn L, Hồ Văn L1, Hồ Văn N1, Hồ Văn Q, Hồ Văn T, còn 2 người đã chết khi còn nhỏ, chưa có gia đình. Bố mẹ hai cụ không ai có con nuôi, con riêng. Quá trình chung sống hai cụ tạo lập được khối tài sản chung gồm: Thửa đất số 89, 90, 96, tờ bản đồ 117 – 65b (bản đồ địa chính) tại khối F, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Tại thửa đất số 90, tờ bản đồ 117 - 65b đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Hồ Cao năm 2002. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh không biết là ai đang cầm giữ. Hiện nay trên đất có ngôi nhà ba gian mái bằng trước đây do bố mẹ anh xây dựng, phần bếp lợp mái tôn, mái tôn, nhà vệ sinh do anh Q xây dựng, phía sau ngôi nhà của cụ C, cụ T6 xây dựng là kho do anh Hồ N xây dựng; phía sau có nhà 02 tầng do vợ chồng anh Hồ Văn L1 và chị Nguyễn Thị T4 xây dựng. Thửa đất trên hiện không bị cầm cố, thế chấp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân nào.
Thửa đất số 89, tờ bản đồ 117 - 65b (bản đồ địa chính) hiện nay do vợ chồng anh N1, chị H3 đã xây nhà 2 tầng. Thửa đất này anh không biết là đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa, anh chỉ biết là đất có nguồn gốc là do bố mẹ anh để lại.
Thửa đất số 96, tờ bản đồ số 117 – 65b (bản đồ địa chính) chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên thửa đất có nhà ở do vợ chồng anh H4, chị T1; vợ chồng anh N, chị T2 và vợ chồng anh đang sử dụng. Các hộ gia đình đã xây dựng nhà ở kiên cố, có khuôn viên riêng. Bố anh là cụ Hồ Cao C1 năm 2003, mẹ anh là cụ T6 chết năm 2018. Khi chết không ai để lại di chúc. Khi còn sống, bố mẹ chưa họp bàn phân chia đất cho các con, nhưng khi mẹ còn sống các anh chị em đã xây nhà ở theo khuôn viên như hiện trạng hiện nay.
Anh yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu phân chia di sản thừa kế theo pháp luật của cụ Hồ C và cụ Nguyễn Thị T6 để lại là quyền sử dụng các thửa đất số 89 + 90 + 96, tờ bản đồ số 117 – 65B, tổng diện tích 829m² (theo bản đồ địa chính năm 1997), tại khối F, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, nay là các thửa đất số 38 + 41 + 50 +53, tờ bản đồ số 12, tổng diện tích 961,7m² (bản đồ địa chính dạng số). Anh có nguyện vọng được nhận di sản thừa kế bằng hiện vật là một phần thửa đất số 96, tờ bản đồ số 117 – 65B (bản đồ địa chính), nay là thửa đất số 53, tờ bản đồ số 12 (bản đồ địa chính dạng số), trên đất có nhà và công trình phụ do vợ chồng anh xây dựng. Anh sẽ bù chênh lệch trị giá tài sản cho các hàng thừa kế khác, trường hợp các hàng thừa kế khác bù chênh lệch giá trị tài sản anh H không nhận. Anh thống nhất với giá trị các tài sản theo biên bản định giá ngày 02/4/2024. Các diện tích đất khác anh H có yêu cầu, ai đang ở đâu thì giao cho người đó tiếp tục sử dụng. Tại phiên toà anh H đề nghị chia di sản thừa kế là ngôi nhà của cụ C, cụ T6 để lại và đề nghị giao cho hàng thừa kế được nhận phần đất có nhà.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/11/2022 bị đơn anh Hồ Văn L trình bày:
Anh là con của cụ Hồ C và cụ Nguyễn Thị T6. Cụ C và cụ T6 kết hôn vào thời gian nào, có đăng ký kết hôn hay không anh không rõ. Lời trình bày của anh thống nhất như lời trình bày của anh H về họ tên các con chung của cụ C và cụ T6, cũng như di sản của cụ C, cụ T6. Cụ C, cụ T6 chết không để lại di chúc. Quá trình sử dụng đất các anh chị em chỉ xây dựng các công trình là nhà ở, không ai đóng góp công sức gì. Khi cụ C và cụ T6 còn sống không họp bàn về việc phân chia đất cho các con, ai có gia đình thì ra ở riêng trước, ai có gia đình sau thì ở sau trên những thửa đất của ông bà. Thời điểm đó đất đai còn rẻ nên ai ở chỗ nào thì ở. Vợ anh là Hồ Thị Thanh T3 hiện không có mặt tại địa phương, anh không liên lạc với chị T3, vợ chồng đã sống ly thân, hiện anh không biết chị T3 đi đâu, làm gì. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bố mẹ đã giao cho ai quản lý, phần diện tích nào thì quản lý phần diện tích đó. Kỳ phần thừa kế anh được nhận đề nghị giao lại cho anh N, không yêu cầu ai trích trả công sức. Anh không yêu cầu chia các tài sản trên đất do các anh chị em xây dựng. Anh L đã đọc lại văn bản, công nhận biên bản ghi đúng lời khai của mình nhưng từ chối ký vào biên bản.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/11/2022 bị đơn anh Hồ Văn N1 trình bày:
Anh là con trai của cụ Hồ C và cụ Nguyễn Thị T6. Anh thống nhất với lời khai của anh L về họ tên, năm sinh, năm chết, các con chung của hai cụ. Quá trình chung sống hai cụ tạo lập được khối tài sản chung là thửa đất số 90, thửa đất số 96, thửa đất số 89 đều thuộc tờ bản đồ 117 – 65B tại khối F, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Thửa đất số 90 đã được cấp GCNQSDĐ cho ông Hồ Cao N3 2002 hiện trên đất có ngôi nhà ba gian mái bằng do cụ C và cụ T6 xây dựng; cạnh nhà 3 gian mái bằng là nhà bếp lợp mái tôn do anh Q xây dựng. Phía sau thửa đất là ngôi nhà do anh L1 xây dựng. Thửa đất số 89 đã được cấp GCNQSDĐ mang tên bà Nguyễn Thị T6. Thửa đất này hiện nay vợ chồng anh đã xây nhà 02 tầng. Thửa đất số 96 chưa được cấp GCNQSDĐ, trên đất hiện nay vợ chồng anh H4, vợ chồng anh H, vợ chồng anh N đã xây dựng nhà ở kiên cố, có khuôn viên riêng. Cụ C và cụ T6 chết không để lại di chúc, khi còn sống cũng không họp bàn gia đình về việc phân chia đất cho các con. Lúc đó ai có gia đình trước thì ra ở riêng trước, ai có gia đình sau thì ở sau trên những thửa đất của ông bà. Quá trình ở trên thửa đất số 89, Bản đồ 117 – 65B anh không yêu cầu trích trả công sức quản lý tài sản. Vợ chồng anh chị đã nhận được thông báo thụ lý, bản sao hồ sơ khởi kiện, giấy báo của Tòa án nhưng do bận công việc nên không đến Tòa án làm việc được. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh có ý kiến như sau: Anh đề nghị nhận thửa đất số 89 nay là thửa đất số 38, tờ bản đồ số 12 trên đất có nhà của vợ chồng. Còn các thửa đất khác anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Các tài sản trên đất do các con xây dựng anh không yêu cầu Tòa án phân chia. Anh N1 đã nghe, đọc lại thấy đúng, thống nhất với những nội dung của biên bản lấy lời khai nhưng để các anh chị em trong gia đình bàn bạc thống nhất nên chưa ký vào biên bản.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/7/2024 bị đơn anh Hồ Văn T trình bày: Anh thống nhất với lời khai của anh Hồ H về họ tên, năm sinh, năm mất của bố mẹ, họ tên, năm sinh địa chỉ của các anh chị em trong gia đình; nguồn gốc di sản của bố mẹ để lại và quá trình sử dụng đất sau khi bố mẹ mất. Về kết quả định giá tài sản theo thông báo kết quả định giá tài sản số 483/TB-TA ngày 17/5/2024, anh không có ý kiến gì. Anh đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh Hồ H, thống nhất phân chia di sản thừa kế của bố mẹ để lại là quyền sử dụng các thửa đất số 89, 90, 96, tờ bản đồ 117 – 65B tổng diện tích 829m² theo bản đồ địa chính năm 1997 tại khối F, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, nay là các thửa đất số 38, 41, 50, 53, tờ bản đồ số 12, tổng diện tích 961,7m² theo bản đồ địa chính dạng số. Anh có nguyện vọng được nhận kỳ phần thừa kế của bố mẹ để lại bằng hiện vật là một phần thửa đất số 90, tờ bản đồ 117 – 65B nay là thửa đất số 41, tờ bản đồ số 12 tại khối F, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Anh không có ý kiến gì đối với các tài sản các anh trai đã ở và xây dựng trên các thửa đất của bố mẹ để lại. Tại phiên toà anh có nguyện vọng được nhận phần đất và ngôi nhà ba gian do cụ C, cụ T6 để lại, sẽ bù chênh lệch giá trị tài sản cho các hàng thừa kế khác. Trường hợp anh được các hàng thừa kế khác bù chênh lệch giá trị tài sản thì anh không nhận.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/6/2024 bị đơn anh Hồ Văn L1 trình bày:
Anh thống nhất như lời khai của các hàng thừa kế khác về họ tên, năm sinh, năm mất của bố mẹ, họ tên, năm sinh địa chỉ của các anh chị em trong gia đình; nguồn gốc di sản của bố mẹ để lại và quá trình sử dụng đất sau khi bố mẹ mất. Anh ở trên thửa đất số 90, tờ bản đồ 117 – 65B nay là thửa đất số 41, tờ bản đồ 12 khoảng từ năm 2009, 2010 lúc đó mới xây móng nhà. Đến năm 2022 anh và chị T4 xây dựng nhà trên đất và ra ở riêng. Khi xây nhà và ra ở riêng thì được sự đồng ý của tất cả các anh chị em nhưng không lập biên bản gì. Sau khi bố mẹ chết các anh chị em không lập biên bản phân chia đất, ai ở đâu thì tiếp tục ở đó. Đối với phần đất hiện vợ chồng anh đang sử dụng, quá trình sinh sống có bồi trúc xây dựng các tài sản trên đất. Anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh không tranh chấp gì cả, ai ở phần đất nào thì cứ ở, anh cũng không yêu cầu trích trả công sức đối với phần đất anh bỏ công xây dựng. Quá trình giải quyết vụ án anh không đến Toà án làm việc do bận công việc.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 24/12/2024 bị đơn anh Hồ Văn N trình bày: Vợ chồng anh (vợ là Đoàn Thị T2) đã nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà nhưng do bận công việc, không có tranh chấp gì với anh H nên vợ chồng anh và các anh chị em sẽ không đến Toà án để làm việc. Anh là con của cụ Hồ C và cụ Nguyễn Thị T6. Hai cụ có 12 con chung, hai người con đã chết khi còn nhỏ chưa có gia đình, còn lại 10 anh chị em là Hồ Thị L2, Hồ H, Hồ Thị H2, Hồ H4, Hồ Văn N, Hồ Văn L, Hồ Văn N1, Hồ Văn L1, Hồ Văn Q, Hồ Văn T. Ngoài các con chung hai cụ không ai có con nuôi, con riêng. Anh không đồng ý với yêu cầu chia đất đai của bố mẹ để lại. Toà án đã nhiều lần gửi văn bản cho các anh chị em nhưng không ai hợp tác do không ai đồng ý với anh H. Khi bố mẹ còn sống đã chia cho ai phần đất nào cứ ở nguyên phần đất đó. Hiện nay vợ chồng anh đang ở trên một phần thửa đất số 96, tờ bản đồ 117-65B, nay là một phần thửa đất số 50, tờ bản đồ số 12 đã xây dựng nhà ở kiên cố trên đó. Từ khi vợ chồng anh ra ở riêng không ai có ý kiến gì cả. Anh có nguyện vọng các anh em đã xây dựng nhà cửa ở phần đất nào thì cứ để nguyên, sử dụng đúng hiện trạng. Anh không yêu cầu ai phải bù tiền cho anh và anh cũng không bù tiền cho người khác. Anh cũng không yêu cầu ai phải trả công sức quản lý, xây dựng tài sản trên đất của bố mẹ để lại. Trước đây bố mẹ có chia cho L một phần diện tích đất thuộc thửa đất số 90, tờ bản đồ 117-65B (bản đồ địa chính) nay là thừa 41, tờ bản đồ 12 nằm cạnh phần đất anh L1, chị T4 làm nhà, nhưng do làm ăn khó khăn L đã chuyển nhượng phần đất đó cho anh. Anh L có nguyện vọng nhường kỳ phần thừa kế anh L được hưởng cho anh. Nhưng hiện nay L chưa có chỗ ở nên anh đề nghị giao phần đất đó cho L. Trên phần đất đó anh có xây dựng một nhà kho. Anh không yêu cầu L phải trả tiền cho anh. Sau này giữa anh em sẽ tự giải quyết với nhau. Khi mẹ còn sống có viết giấy nhưng anh sẽ không cung cấp cho Toà án vì đây là việc nội bộ của gia đình.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 24/12/2024 bị đơn anh Hồ H4 trình bày: Các anh chị em anh đã nhận được các văn bản do Toà án gửi nhưng sẽ không có ai đến Toà án làm việc vì chúng tôi không có tranh chấp gì với anh H. Anh đồng ý với lời khai của anh N. Khi bố mẹ chết để lại đất đai như thế nào, các anh chị em đã chia nhau xây nhà ở trên đó thì đề nghị vẫn giữ nguyên hiện trạng như thế. Nếu chia đất cho anh H sợ rằng anh H sẽ bán đất. Anh không đồng ý với yêu cầu chia thừa kế đất đai của bố mẹ để lại của anh H. Hiện nay anh và vợ là Bùi Thị T1 đang ở trên một phần thừa đất số 96, tờ bản đồ 117-65 do bố mẹ là cụ Hồ C và cụ Nguyễn Thị T6 để lại. Vợ chồng anh đã xây dựng nhà ở kiên cố từ lúc mẹ anh còn sống, anh chị em trong gia đình không ai có ý kiến gì. Khi anh cưới vợ ra ở riêng làm nhà ở trên đất như hiện nay. Bố mẹ khi còn sống cho anh ở đâu thì anh ở đó, không phân chia gì hết. Anh không yêu cầu ai trích trả công sức khi ở trên đất, cũng không yêu cầu ai trả tiền bù chênh lệch giá trị tài sản. Bố mẹ đã phân chia đất cho 08 anh em nhưng không có giấy tờ văn bản gì.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 24/12/2024 của bị đơn anh Hồ Văn Q trình bày: Anh đã nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà, nhưng anh không đến Toà án để làm việc do không tranh chấp gì với anh H. Anh và các anh chị em đều không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh H, đất đai của bố mẹ để lại như thế nào thì để nguyên như thế, anh H muốn làm bìa đất không ai đồng ý cả. Anh ở với bố mẹ từ nhỏ trên thửa đất 90, tờ bản đồ 117-65B tại khối F, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Sau khi lấy vợ anh tiếp tục ở trên thửa đất và trên ngôi nhà của bố mẹ để lại. Quá trình ở trên đất anh có cải tạo bếp, làm mái che sân bằng tôn, công trình vệ sinh. Năm 2023 anh T lấy vợ thì vợ chồng anh và vợ chồng anh T tiếp tục quản lý phần đất trên. Anh không có nguyện vọng được giao đất của bố mẹ để lại, phần đất của anh đang sử dụng anh mong muốn để lại làm nhà thờ cho bố mẹ, không phân chia. Nhà ở trên đất cũng để nguyên. Anh không yêu cầu ai phải trả cho giá trị bằng tiền kỳ phần thừa kế vượt quá, cũng không bù tiền cho ai, không yêu cầu ai trả giá trị tài sản trên đất, không yêu cầu ai trả công sức quản lý, cải tạo di sản. Các phần đất của bố mẹ để lại ai ở đâu thì ở nguyên như thế.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn chị Bùi Thị T1 (vợ anh H4), chị Đoàn Thị T2 (vợ anh N), chị Nguyễn Thị T5 (vợ anh Q) đều có trình bày:
Các chị là con dâu của cụ C và cụ T6. Các cụ kết hôn với nhau vào thời gian nào chị không biết, cũng không biết có đăng ký kết hôn hay không. Vợ chồng các anh chị đã nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu do Toà án tống đạt nhưng do không sắp xếp được công việc nên không tham gia được. Quá trình chung sống 2 cụ có 12 con chung là Hồ Thị L2, Hồ H, Hồ Thị H2, Hồ H4, Hồ Văn N, Hồ L, Hồ Văn L1, Hồ Văn N1, Hồ Văn Q và Hồ Văn T và hai người con đã chết chưa có gia đình. Hai cụ không ai có con riêng, con nuôi. Quá trình chung sống hai cụ tạo lập được khối tài sản như lời khai của anh L, anh N1 đã trình bày. Khi còn sống hai cụ có xây nhà ở tại thừa đất số 90 hiện vợ chồng anh Q, chị T5 và anh T đang quản lý, sử dụng. Phía sau của thửa đất là do anh L1, anh L sử dụng. Anh L đã bán lại cho anh N. Thửa đất này đã được cấp GCN QSDĐ cho cụ Hồ Cao . Các thửa đất còn lại đã được cấp bia chưa, cấp cho ai các chị không nắm được. Vợ chồng anh H4, chị T1; anh N, chị T2 đã xây dựng nhà ở có khuôn viên ổn định
Hiện vợ chồng các chị không tranh chấp vấn đề gì về đất đai. Khi còn sống hai cụ cho các anh chị ở phần đất nào thì vợ chồng các anh chị ở phần đất đó. Đối với chị T1, anh H4; chị T2 và anh N khi ở trên thửa đất số 96 có xây dựng nhà ở; còn chị T5 và anh Q ở trên nhà ở của cụ C và cụ T6, quá trình ở có tôn tạo lại. Chị T1, chị T2, chị T5 cho rằng các chị không có tranh chấp gì, ai ở phần đất nào thì tiếp tục ở phần đất đó.
Tại các biên bản lấy lời khai, quá trình giải quyết và tại phiên toà người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H1 trình bày:
Chị thống nhất với lời khai của nguyên đơn anh Hồ H về họ tên, năm sinh, năm mất của bố mẹ, họ tên, năm sinh địa chỉ của các anh chị em trong gia đình; nguồn gốc di sản của bố mẹ để lại và quá trình sử dụng đất sau khi bố mẹ mất. Do anh H là con trưởng nên cụ C khi còn sống có viết giấy cho một nửa phần đất tại thửa đất số 96, lúc đó có nhờ ông xóm trưởng viết giấy do cụ C không biết chữ. Quá trình giải quyết vụ án chị không xuất trình được tài liệu trên do bị thất lạc. Chị đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia di sản thừa kế của cụ C và cụ T6 theo pháp luật. Quá trình vợ chồng chị ở trên thửa đất số 96 đã xây dựng nhà ở, có khuôn viên ổn định, chị không đề nghị các hàng thừa kế khác phải trích trả công sức làm tăng giá trị quyền sử dụng đất. Chị có nguyện vọng được quản lý, sử dụng phần diện tích đất vợ chồng chị đã xây dựng nhà ở và có khuôn viên ổn định.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/6/2024 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hồ Thị L2 trình bày:
Chị đã nhận được các văn bản tố tụng của Toà án nhưng do chị không liên quan, không tranh giành gì theo đơn khởi kiện của anh H nên chị không đến Toà án làm việc. Chị là con gái của của cụ C và cụ T6. Chị không rõ bố mẹ có đăng ký kết hôn hay không, cũng không nhớ kết hôn vào thời gian nào. Hai cụ có 12 con chung là chị, anh Hồ H, chị Hồ Thị H2, anh Hồ Văn N1, anh Hồ H4, anh Hồ Văn N, anh Hồ Văn L, anh Hồ Văn L1, anh Hồ Văn Q và anh Hồ Văn T. Quá trình chung sống hai cụ tạo lập được các thửa đất hiện nay anh L1, anh Q, anh T đang ở một thửa; thừa thứ hai là anh H4, anh N, anh H; còn thừa đất của anh N1 là do chị mua của UBND thị trấn C, thời gian chị không nhớ. Thửa đất của anh N1 chị có giấy tờ nhưng chị sẽ không cung cấp cho Toà án vì chị không tranh chấp gì. Anh N1 đã được cấp GCN QSDĐ. Cụ C chết năm 2003, cụ T6 chết năm 2018. Hai cụ có để lại di chúc nhưng chị sẽ không cung cấp cho Toà án. Sau khi hai cụ chết các em của chị ở trên đất, các em đã xây nhà ở kiên cố, có khuôn viên ổn định, không tranh chấp. Sau khi cụ T6 và cụ C chết, chị có giúp đỡ các em đổ đất phía sau nhà cấp bốn của bố mẹ để lại. Chị không yêu cầu xem xét về công sức vì đó là giúp đỡ vì các em khó khăn. Chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh H. Quá trình các em ở trên đất do hoàn cảnh khó khăn nên chị có giúp đỡ cho các em xây nhà nhưng chị không đòi hỏi gì, không yêu cầu trích trả công sức. Ai đã xây dựng nhà cửa, công trình xây dựng gì thì cứ ở không đồng ý phân chia. Chị không cung cấp tài liệu gì. Chị không đồng ý yêu cầu khởi kiện của anh H nên chị sẽ không đến Toà án làm việc.
Kết quả xem xét thẩm định, định giá tài sản ngày 02/4/2024:
I. Về quyền sử dụng đất:
- Thửa đất số 90, tờ bản đồ 117-65B, nay là thừa đất số 41, tờ bản đồ 12 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ địa chính. Giá đất ở: 4.000.000đ/m², giá đất trồng cây hàng năm: 2.000.000đ/m².
- Thửa đất số 89, tờ bản đồ 117-65B, nay là thửa số 38, tờ bản đồ số 12 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc từ đất vườn ao xác định: 2.000.000đ/m².
Ngày 29/11/2024 Hội đồng định giá điều chỉnh, bổ sung biên bản định giá tài sản: thửa đất số 89, tờ bản đồ số 117-65B diện tích 72m² tại khối F, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, theo bản đồ địa chính là thửa đất số 38 tờ bản đồ 12 (bản đồ địa chính dạng số) đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thuộc loại đất ở đô thị. Hội đồng định giá quyết định điều chỉnh giá thừa đất trên là 4.000.000đ/m².
- Thửa đất số 96, tờ bản đồ số 117-65B, nay là thửa đất số 50 và 53 tờ bản đồ 12 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xác định là 3.000.000đ/m².
II. Về tài sản trên đất.
1. Tài sản trên thửa đất số 90, tờ bản đồ 117 - 65B, diện tích 439m² (bản đồ địa chính năm 1997) tại khối F, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Hồ C, nay là thửa đất số 41, tờ bản đồ 12 diện tích 519,1m² (bản đồ địa chính dạng số). Thửa đất có vị trí tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 30, tờ bản đồ 12 do anh Hồ Văn N sử dụng kích thước 5,02m + 1,43m + 1,02m + 8m + 1,07m; giáp đường đi kích thước 1,21m + 1,78m + 10,79m + 1,38m + 0,81m; Phía Nam giáp đường đi kích thước 6,96m + 8m +1.65m + 7,24m + 6,5m + 0,8m + 1,88m + 3,61m; Phía Đông giáp đường đi kích thước 7,36m + 4,19m + 1,06m; phía Tây giáp thửa đất số 30 kích thước 14,8m, giáp đường đi kích thước 0,19m.
1.1. Khuôn viên do anh Hồ Văn Q và Hồ Văn T sử dụng:
- 01 nhà cấp bốn mái lợp ngói, V tăng đa, tường xây đá xây dựng năm 1998 do cụ T6 và cụ C xây dựng diện tích 62,08m² trị giá 86.800.000đ;
- 01 nhà bếp mái lợp tôn xốp, tường xây sò táp lô diện tích xây dựng 18,24m² trị giá 18.600.000₫;
- Mái tôn che sân diện tích 54,59m² trị giá 11.500.000₫;
- Sân bê tông láng xi măng diện tích 163,24m² trị giá 11.200.000₫;
- Bể cạn thể tích 07m³ trị giá 2.800.000₫;
- Tường xây sò tap lô: Phía Đông dài 7,38m + 4,1m + 2,4m; Phía Bắc dài 11,75m; Phía Nam dài 8,75m, cao 2m. Tổng giá trị 6.000.000đ;
- Cổng sắt hộp diện tích 6,82m² trị giá 2.500.000đ;
- Trụ cổng tiết diện 40cm x 40cm, cao 2,2m trị giá 3.200.000₫;
- Nhà tắm, nhà vệ sinh phía sau nhà bếp diện tích 4,8m² trị giá 500.000₫;
1.2. Khuôn viên do anh Hồ Văn N sử dụng:
- Bờ tường bao phía Nam xây sò táp lô có da trát diện tích 11,2m² trị giá 1.100.000₫;
- Nhà kho diện tích 11,84m² mái lợp tôn, tường xây sò táp lô có da trát, nền láng xi măng trị giá 14.500.000₫;
- 02 cây dừa trị giá 700.000đ.
1.3. Khuôn viên do anh Hồ Văn L1 sử dụng:
- 01 nhà hai tầng tường xây sò táp lô, có da trát, nền lát gạch liên doanh có sơn bả, có tường bao, mái che, sân có diện tích sàn 131m² xây dựng năm 2017 trị giá 545.000.000₫.
2. Thửa đất số 89, tờ bản đồ 117-65B, diện tích 72m² đất ở đô thị tại khối F, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An (bản đồ địa chính năm 1997) nay là thửa đất số 38, tờ bản đồ 12 (bản đồ địa chính dạng số) diện tích 88,2m². Thửa đất có tứ cận:
Phía Bắc giáp thửa đất số 30, tờ bản đồ 12 do anh Hồ Văn N sử dụng kích thước 1,82m, giáp thửa đất số 40 do bà Nguyễn Thị T7 sử dụng kích thước 10,5m; Phía Nam giáp đường kích thước 12,61m; Phía Đông giáp đường đi kích thước 7,33m; Phía Tây giáp thửa đất số 30 do anh Hồ Văn N sử dụng kích thước 6,71m. Thừa đất trên do anh Hồ Văn N1 sử dụng. Thửa đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 330689 mang tên Nguyễn Thị T6 ngày 18/12/2013 trị giá 352.800.000₫ (Ba trăm năm mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng).
Tài sản trên đất: 01 nhà hai tầng tường xây gạch mái đổ bê tông, nền lát gạch, tường quét vôi diện tích sàn 173,6m² xây dựng năm 2023 trị giá 725.000.000₫.
3. Thửa đất số 96, tờ bản đồ 117-65B, diện tích 318m² tại khối F, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nay là các thửa đất số 50 và 53, tờ bản đồ 12 (bản đồ địa chính dạng số).
3.1. Thửa đất số 50, tờ bản đồ 12, diện tích 160,8m² do anh Hồ Văn N và Hồ Văn H4 sử dụng. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 40 kích thước 4,07m + 4,37m; Phía Nam giáp đường đi kích thước 4,64m + 1,86m + 1,42m + 1,85m; Phía Đông giáp thửa đất số 53 kích thước 18,93m; Phía Tây giáp đường đi kích thước 1,2m + 15,18m. Thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xác định giá trị 3.000.000đ/m². Thửa đất có giá trị 482.400.000₫.
Trên đất có các tài sản do vợ chồng anh Hồ Văn N xây dựng gồm: 01 nhà ở tường xây sò táp lô mái ngói, diện tích 69m², phía sau có 02 tầng diện tích 60m² trị giá 380.000.000₫
Trên đất có các tài sản do vợ chồng anh Hồ H4 xây dựng gồm: 01 nhà ở 2 tầng, tường xây gạch, mái đổ bê tông nền lát gạch, tường quét vôi diện tích 128,8m² trị giá 405.000.000₫.
3.2. Thửa đất số 53, tờ bản đồ 12, diện tích 189,1m² do anh Hồ H sử dụng. Thửa đất có vị trí tử cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 40 kích thước 6,91m + 2,18m, giáp thửa đất số 57 kích thước 1,39m; Phía Nam giáp đường đi kích thước 5,43m + 3,77m; Phía Đông giáp thửa đất số 57 kích thước 2,24m + 16,71m; Phía Tây thừa đất số 50 kích thước 18,93m. Thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xác định giá trị 3.000.000đ/m². Thửa đất có giá trị 567.300.000₫.
Trên đất có các tài sản:
- 01 nhà hai tầng do vợ chồng anh H xây dựng năm 2005, tường xây sò tap lô, nền lát gạch, có sơ bả diện tích 162m² (rộng 5,4m, dài 15m) trị giá 328.000.000đ;
- Mái che sân diện tích 92,7m² trị giá 18.000.000đ; Sân láng xi măng diện tích 38,7m² trị giá 3.200.000₫.
Tại Văn bản số 1301/UBND.ĐC ngày 30/9/2024 của Ủy ban nhân dân thị trấn C có nội dung:
Đối với thửa đất số 41 tờ bản đồ 12 theo bản đồ địa chính năm 2014 tại khối F, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An có diện tích 519,1m² (theo kết quả đo đạc ngày 02/4/2024) tăng 80,1m² so với diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 292871 ngày 07/5/2002 đối với thửa đất số 90, tờ bản đồ 117 - 65B (theo bản đồ địa chính năm 1997). Qua kiểm tra, soát xét bản đồ địa chính năm 1997, theo ranh giới đo vẽ thể hiện trên bản đồ địa chính năm 1997 và sơ đồ thửa đất thể hiện trên Giấy chứng nhận QSD đất số X 292871 thì diện tích chính xác của thửa đất số 90 tờ bản đồ 117 – 65B là 512,6m², việc bản đồ địa chính năm 1997 thể hiện diện tích đất số 90 tờ bản đồ số 117 – 65B chỉ có 439m² là do nhầm lẫn, sai sót khi vẽ bản đồ và ghi số liệu diện tích thửa đất vào bản đồ dẫn đến khi cấp GCN đất kê khai, cấp GCN đất theo số liệu ghi trên bản đồ số nên thiếu 73,6m² đất vườn trồng cây hàng năm khác. Phần diện tích tăng còn lại 6,5m² đất vườn trồng cây hàng năm khác là do đo bản đồ qua các thời kỳ nên chênh lệch diện tích qua các lần đo đạc bản đồ. Toàn bộ diện tích tăng 80,1m² là đất vườn trồng cây hàng năm khác trong cùng thửa đất ở không có tranh chấp, không lấn chiếm các bất động sản liền kề, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất ở khu dân cư của thị trấn, thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của hộ ông Hồ C và bà Nguyễn Thị T6.
Đối với thửa đất số 89 tờ bản đồ 117 – 65B theo Bản đồ địa chính năm 1997 đã được cấp GCN QSDĐ số BQ 330689 với diện tích 72m² đất ở tại đô thị cho bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1945 vào ngày 18/12/2013. Theo Bản đồ địa chính năm 2014 và hiện trạng sử dụng đất, thửa đất trên là thửa đất số 38, tờ bản đồ 12 diện tích 88,2m² đất ở tại đô thị, tăng 16,2m² đất so với diện tích được cấp GCN QSDĐ. Nguyên nhân là do khi đo vẽ bản đồ địa chính năm 1997 xác định chưa chính xác ranh giới, mốc giới sử dụng của thửa đất. Từ trước đến nay UBND thị trấn C không nhận được ý kiến về việc có tranh chấp, lấn chiếm với các bất động sản liền kề đối với toàn bộ diện tích tăng 16,2m²; phần diện tích tăng phù hợp với quy hoạch sử dụng đất ở khu dân cư của thị trấn, thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của bà Nguyễn Thị T6.
Đối với thửa đất số 96, tờ bản đồ 117 – 65B theo bản đồ địa chính năm 1997 diện tích 318m² tại khối F, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An nay là các thửa đất số 50 và 53 tờ bản đồ 12 bản đồ địa chính dạng số năm 2014. Mục đích sử dụng đất (loại đất) của các thửa đất trên phù hợp với hiện trạng sử dụng đất là ODT- đất ở tại đô thị. Nguồn gốc sử dụng các thừa đất theo hồ sơ kê khai xin cấp GCN QSDĐ của ông Hồ H năm 2014 được UBND thị trấn C xác nhận thửa đất có nguồn gốc do hộ ông Hồ C và bà Nguyễn Thị Thông sử D từ năm 1981. Từ trước đến nay UBND thị trấn C không nhận được ý kiến về việc có tranh chấp, lấn chiếm với các bất động sản liền kề đối với toàn bộ thừa đất số 96, tờ bản đồ 117-65B (theo bản đồ địa chính năm 1997), tức thửa đất số 50 và 53 tờ bản đồ số 12 (theo bản đồ địa chính năm 2014).
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 45/2024/DS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã quyết định:
1. Căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 184, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 149, Điều 609, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
2. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hồ H: Phân chia di sản của cụ Hồ C và cụ Nguyễn Thị T6 để lại là các thửa đất số 90, tờ bản đồ 117 – 65B, diện tích 439m² nay là thừa đất số 41, tờ bản đồ 12, diện tích 519,1m²; thửa đất số 96, tờ bản đồ 117 – 65B, diện tích 318m², nay là thửa đất số 53, tờ bản đồ 12, diện tích 189,1m² và thửa đất số 50, tờ bản đồ 12, diện tích 160,8m²; thửa đất số 89, tờ bản đồ 117 – 65B, diện tích 72m² nay là thửa đất số 38, tờ bản đồ 12, diện tích 88,2m² theo pháp luật.
2.1. Giao cho anh Hồ Văn L1 được quản lý, sử dụng phần diện tích 106m² trong đó 50m² đất ở và 56m² đất trồng cây hàng năm tại thửa đất số 90, tờ bản đồ 117 – 65B nay là thửa đất số 41, tờ bản đồ 12 (bản đồ địa chính dạng số) trị giá 312.000.000₫ (Ba trăm mười hai triệu đồng). Phần đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất 30, tờ bản đồ 12 kích thước 5,02m + 1,43m; Phía Nam giáp đường đi kích thước 6,96m; Phía Đông giáp phần đất còn lại của thửa đất số 41, tờ bản đồ 12 (giáp phần đất giao cho anh L), kích thước 14,81m, giáp thửa đất số 30 kích thước 0,27m + 1,02m; Phía Tây giáp thửa đất số 30 kích thước 14,8m, giáp đường đi kích thước 0,19m.
Giao cho anh Hồ Văn L1, chị Nguyễn Thị T4 được sử dụng các tài sản gắn liền với phần đất được giao gồm: 01 nhà hai tầng tường xây sò táp lô, có da trát, nền lát gạch liên doanh có sơn bả, có tường bao, mái che, sân có diện tích sàn 131m² xây dựng năm 2017 trị giá 545.000.000đ.
Anh Hồ Văn L1 có nghĩa vụ bù chênh lệch trị giá tài sản vượt quá cho chị Hồ Thị L2 số tiền 4.129.000₫ (Bốn triệu một trăm hai mươi chín nghìn đồng).
2.2. Giao cho anh Hồ Văn L được quản lý, sử dụng phần diện tích thuộc thửa đất số 96, tờ bản đồ 117-65B, nay là thừa đất số 41, tờ bản đồ số 12, diện tích 120,9m² trong đó 50m² đất ở, 70,9m² đất trồng cây hàng năm trị giá 341.800.000₫ (Ba trăm bốn mươi mốt triệu tám trăm nghìn đồng). Phần đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 30 kích thước 8m; Phía Nam giáp đường đi kích thước 8m; Phía Đông giáp phần đất giao cho anh T kích thước 9,31m, giáp phần đất giao cho anh Q kích thước 6,19m; Phía Tây giáp phần đất giao cho anh Hồ Văn L1 kích thước 14,81m.
Giao cho anh Hồ Văn L được sử dụng các tài sản trên đất gồm: Bờ tường bao phía Nam xây sò táp lô có da trát diện tích 11,2m² trị giá 1.100.000đ; Nhà kho diện tích 11,84m² mái lợp tôn, tường xây sò táp lô có da trát, nền láng xi măng trị giá 14.500.000đ; 02 cây dừa trị giá 700.000đ. Nhà tắm, nhà vệ sinh phía sau nhà bếp diện tích 4,8m² trị giá 500.000₫;
Anh Hồ Văn L có nghĩa vụ bù chênh lệch trị giá tài sản vượt quá cho chị Hồ Thị L2 số tiền 33.928.000₫ (Ba mươi ba triệu chín trăm hai mươi tám nghìn đồng).
2.3. Giao cho anh Hồ Văn T được quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 197,2m² trong đó 50m² đất ở, 147,2m² đất trồng cây hàng năm, trị giá là 494.400.000₫ (Bốn trăm chín mươi bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Phần đất có tứ cận: Phía Bắc giáp phần đất giao cho anh Q, kích thước 18,55m; Phía Nam giáp đường kích thước 1,65m + 7,24m + 6,5m + 0,8m + 1,88m + 3,61m; Phía Đông giáp đường đi kích thước 7,36m; Phía Tây giáp phần đất giao cho anh L kích thước 9,31m.
Giao cho anh Hồ Văn T được sở hữu: 01 nhà cấp bốn mái lợp ngói, via tăng đa, tường xây đá xây dựng năm 1998 do cụ T6 và cụ C xây dựng diện tích 62,08m² trị giá 86.800.000₫ (Tám mươi sáu triệu tám trăm nghìn đồng); 01 phần sân bê tông láng xi măng diện tích 107,59m² (kích thước dài 10,6m, rộng 10,15m) trị giá 7.316.000đ; Cổng sắt hộp diện tích 6,82m² trị giá 2.500.000đ; Trụ cổng tiết diện 40cm x 40cm, cao 2,2m trị giá 3.200.000đ; Tường sò phía Đông dài 7,38m, phía Nam dài 8,75m, cao 2m trị giá 2.806.000đ.
Anh Hồ Văn T có nghĩa vụ bù chênh lệch trị giá tài sản vượt quá cho chị Hồ Thị H2 số tiền 273.329.000₫ (Hai trăm bảy mươi ba triệu ba trăm hai mươi chín nghìn đồng).
3.4. Giao cho anh Hồ Văn Q được quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 95m² trong đó 50m² đất ở, 45m² đất trồng cây hàng năm, có trị giá là 290.000.000₫ (Hai trăm chín mươi triệu đồng) tại thừa đất số 90, tờ bản đồ số 117-65B nay là thừa số 41, tờ bản đồ số 12. Phần đất có tứ cận: Phía Bắc giáp đường kích thước 0,81m + 1,38m + 10,79m + 1,78m + 1,21m; giáp thửa đất số 30 kích thước 1,07m; Phía Nam giáp phần đất giao cho anh T kích thước 18,55m; Phía Đông giáp đường đi kích thước 4,19m + 1,06m; Phía Tây giáp phần đất giao cho anh L kích thước 6,19m.
Giao cho anh Q được sở hữu các tài sản trên đất gồm: 01 nhà bếp mái lợp tôn xốp, tường xây sò táp lô diện tích xây dựng 18,24m² trị giá 18.600.000₫; Mái tôn che sân diện tích 54,59m² trị giá 11.500.000đ; Bể cạn thể tích 7m³ trị giá 2.800.000đ; 01 phần sân bê tông diện tích 55,65m² (kích thước rộng 5,25m, dài 10,6m) trị giá 3.884.000đ; T8 xây sò tap lô: Phía Đông 4,1m + 2,4m; Phía Bắc dài 11,75m, cao 2m trị giá 3.194.000₫.
Anh Hồ Văn Q không yêu cầu các đồng thừa kế khác bù chênh lệch giá trị tài sản.
3.5. Giao cho anh Hồ Văn N1 được quản lý, sử dụng thửa đất số 89, tờ bản đồ 117 – 65B, diện tích 72m² nay là thửa đất số 38, tờ bản đồ 12, diện tích 88,2m² đất ở trị giá 352.800.000₫ (Ba trăm năm mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng). Thừa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 40 kích thước 10,5m, giáp thửa đất số 30 kích thước 1,82m; Phía Nam giáp đường kích thước 12,61m; Phía Đông giáp thửa đất số 40 kích thước 7,33m; Phía Tây giáp thửa đất số 30 kích thước 6,71m. Giao cho anh Hồ Văn N1 và chị Hà Thị H3 được sử dụng 01 nhà hai tầng tường xây gạch mái đổ bê tông, nền lát gạch, tường quét vôi diện tích sàn 173,6m² xây dựng năm 2023 trị giá 725.000.000₫.
Anh Hồ Văn N1 có nghĩa vụ bù chênh lệch trị giá tài sản vượt quá cho chị Hồ Thị H2 số tiền 34.542.000₫ (Ba mươi bốn triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn đồng) và bù chênh lệch trị giá tài sản vượt quá cho chị Hồ Thị L2 số tiền 10.387.000₫ (Mười triệu ba trăm tám mươi bảy nghìn đồng).
3.6. Tạm giao cho anh Hồ Văn H4 được quản lý, sử dụng một phần diện tích thuộc thửa đất số 96, tờ bản đồ 117-65B, nay là thừa 50, tờ bản đồ 12, diện tích 77,3m² trong đó 50m² đất ở và 27,3m² đất ở vượt hạn mức có trị giá 231.900.000₫ (Hai trăm ba mươi mốt triệu chín trăm nghìn đồng). Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thừa đất số 40 kích thước 4,07m; Phía Nam giáp đường đi kích thước 1,86m + 1,42m; Phía Đông giáp phần đất giao cho anh N sử dụng, kích thước 18,34m; Phía Tây giáp đường đi kích thước 1,85m + 1,2m + 15,18m.
Giao cho anh Hồ H4 và chị Bùi Thị T1 được sử dụng 01 nhà ở 2 tầng, tường xây gạch, mái đổ bê tông nền lát gạch, tường quét vôi diện tích 128,8m² trị giá 405.000.000₫.
Anh Hồ H4 không yêu cầu các đồng thừa kế khác bù chênh lệch giá trị tài sản.
3.7. Tạm giao cho anh Hồ Văn N được quản lý, sử dụng một phần diện tích thuộc thửa đất số 96, tờ bản đồ 117-65B, nay là thừa 50, tờ bản đồ 12, diện tích 83,5m² trong đó 50m² đất ở và 33,5m² đất ở vượt hạn mức, trị giá 250.500.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu năm trăm nghìn đồng). Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 40 kích thước 4,37m; Phía Nam giáp đường đi kích thước 4,64m; Phía Đông giáp thửa đất số 53 kích thước 18,93m; Phía Tây giáp phần đất giao cho anh H4 kích thước 18,34m.
Giao cho anh Hồ Văn N và chị Đoàn Thị T2 01 nhà ở tường xây sò táp lô mái ngói, diện tích 69m², phía sau có 2 tầng diện tích 60m² trị giá 380.000.000₫.
Anh Hồ Văn N không yêu cầu các đồng thừa kế khác bù chênh lệch giá trị tài sản.
3.8. Tạm giao cho anh Hồ H được quản lý, sử dụng một phần diện tích thửa đất số 96, tờ bản đồ 117-65B, nay là thừa 53, tờ bản đồ 12, diện tích 189,1m² trong đó 100m² đất ở và 89,1m² đất ở vượt hạn mức, có trị giá 567.300.000₫ (Năm trăm sáu mươi bảy triệu ba trăm nghìn đồng). Thửa đất có vị trí tử cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 40 kích thước 6,91m + 2,18m, giáp thửa đất số 57 kích thước 1,39m; Phía Nam giáp đường đi kích thước 5,43m + 3,77m; Phía Đông giáp thửa đất số 57 kích thước 2,24m + 16,71m; Phía Tây thửa đất số 50 (phần giao cho anh N) kích thước 18,93m.
Giao cho anh Hồ H, chị Nguyễn Thị H1 sử dụng 01 nhà hai tầng xây dựng năm 2005, tường xây sò tap lô, nền lát gạch, có sơ bả diện tích 162m² trị giá 328.000.000₫; Mái che sân diện tích 92,7m² trị giá 18.000.000đ; Sân láng xi măng diện tích 38,7m² trị giá 3.200.000₫.
Anh Hồ H có nghĩa vụ bù chênh lệch trị giá tài sản vượt quá cho chị Hồ Thị L2 số tiền 259.428.000₫ (Hai trăm năm mươi chín triệu bốn trăm hai mươi tám nghìn đồng).
Các thửa đất số 90, tờ bản đồ 117-65B, nay là thừa đất số 41, tờ bản đồ 12; Thửa đất số 89, tờ bản đồ 117-65B, nay là thửa đất số 38, tờ bản đồ 12; Thửa đất số 96, tờ bản đồ 117-65B, nay là thửa đất số 53 và 52, tờ bản đồ 12 đều tọa lạc tại khối F, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(Có sơ đồ phân chia nhà đất kèm theo).
Các đương sự có nghĩa vụ giao cho nhau quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản được nhận.
Đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
3.9. Chị Hồ Thị H2 được nhận số tiền chênh lệch trị giá tài sản của anh Hồ Văn T: 273.329.000₫ (Hai trăm bảy mươi ba triệu ba trăm hai mươi chín nghìn đồng); anh Hồ Văn N1: 34.542.000₫ (Ba mươi bốn triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
Chị Hồ Thị L2 được nhận số tiền chênh lệch trị giá tài sản của anh Hồ Văn N1 là 10.387.000₫ (Mười triệu ba trăm tám mươi bảy nghìn đồng), anh Hồ H: 259.428.000₫ (Hai trăm năm mươi chín triệu bốn trăm hai mươi tám nghìn đồng); anh Hồ Văn L1: 4.129.000₫ (Bốn triệu một trăm hai mươi chín nghìn); anh Hồ Văn L: 33.928.000₫ (Ba mươi ba triệu chín trăm hai mươi tám nghìn đồng).
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Hồ Thị L2, chị Hồ Thị H2, anh Hồ H, anh Hồ Văn L1, anh Hồ Văn L, anh Hồ Văn T, anh Hồ Văn N1 mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là: 15.394.000₫ (Mười lăm triệu ba trăm chín mươi bốn nghìn đồng).
Anh Hồ Văn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 14.500.000₫ (Mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
Anh Hồ H4 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 11.550.000₫ (Mười một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).
Anh Hồ Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 12.525.000₫ (Mười hai triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An kháng nghị thuộc trường hợp không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
6. Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |
Bản án số 57/2025/DS-PT ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 57/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế giữa anh H và H1
