Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 57/2025/DS-PT

Ngày: 12 - 02 - 2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn

Các Thẩm phán: 1/ Bà Trần Thị Thúy Hồng

2/ Ông Trần Ngọc Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Hà Văn Hừng, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm, thụ lý số 668/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trì M, sinh năm 1962; địa chỉ: số C, đường T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (chết ngày 25/8/2021).

Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà M:

  1. Ông Nguyễn Văn Ơ, sinh năm 1963; địa chỉ: số C đường T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh;
  2. Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N, sinh năm 1985; địa chỉ: số G đường C, khu phố C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  3. Bà Nguyễn Ngọc Phương Q, sinh năm 1994; địa chỉ: số C đường T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của ông Ơ, bà N, bà Q: Bà Đặng Thị Minh H, sinh năm 1987; địa chỉ: số D, đường số A, khu dân cư H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Văn bản ủy quyền ngày 24/11/2022);

- Bị đơn: Bà Ngô Thị Bích H1, sinh năm 1984; địa chỉ: số G tổ H, khu phố L, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Lưu Văn B, sinh năm 1977; địa chỉ: số B khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 18/12/2021);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1956; địa chỉ: số G tổ H, khu phố L, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị C: Ông Lưu Văn B, sinh năm 1977; địa chỉ: số B, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 22/01/2022);

  1. Bà Trương Thị Ngọc B1, sinh năm 1974; địa chỉ: số G tổ H, khu phố L, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bà Trương Thị Ngọc B1: Ông Lưu Văn B, sinh năm 1977; địa chỉ: số B, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 22/01/2022);

  1. Ông Lê Quang H2, sinh năm 1972; địa chỉ: số G tổ H, khu phố L, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương;
  2. Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1977; địa chỉ: số G tổ H, khu phố L, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn H3: Ông Lưu Văn B, sinh năm 1977; địa chỉ: số B, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 22/01/2022);

  1. Bà Nguyễn Thị Lệ Q1, sinh năm 1982; địa chỉ: số G tổ H, khu phố L, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương;
  2. Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương;

- Người kháng cáo: người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn gồm ông Nguyễn Văn Ơ, bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N, bà Nguyễn Ngọc Phương Q.

(Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn Ơ, bà Đặng Thị Minh H, ông Lưu Văn B có mặt, các đương sự còn lại văng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn bà Trì M trình bày:

Ngày 07/5/2001, bà Trì M được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00001/QSDĐ/TTLT diện tích 267m² thuộc thửa đất số 87, 88, tờ bản đồ số 35, tọa lạc tại khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương). Do khu đất không xây dựng hay trồng trọt gì nên bà Ngô Thị Bích H1 có xin bà M ở nhờ trên phần đất này, bà M đồng ý. Nay, bà M có nhu cầu sử dụng đất nên yêu cầu bà H1 di dời nhà ra khỏi đất để bà M thuận tiện việc sử dụng nhưng bà H1 không thực hiện.

Do đó, bà M khởi kiện yêu cầu bà H1 tháo dỡ nhà ở, các công trình tài sản trên thửa đất 87, 88 tờ bản đồ số 35, tọa lạc tại phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương trả lại quyền sử dụng đất cho bà M.

Bà M chết ngày 25/8/2021, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà M là ông Nguyễn Văn Ơ, bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N, bà Nguyễn Ngọc Phương Q thống nhất yêu cầu khởi kiện của bà M.

- Bị đơn bà Ngô Thị Bích H1 trình bày:

Bà H1 không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì các lý dọ nguồn gốc thửa đất 87, 88 của mẹ bà Ngô Thị H4 để lại cho bà H4, diện tích lúc đầu là 18a, sau này bà H4 kê khai cấp sổ đất (sổ trắng) có thay đổi. Bà H4 để lại đất cho con là bà Trì M từ năm 1994, kê khai cấp sổ diện tích 1.343m². Bà H4 để lại đất cho bà M nhưng đất để hoang hóa, không sử dụng, canh tác. Trước năm 1975, ông Nguyễn Văn P (cha của ông P là anh của bà H4) có gia cảnh khó khăn, không nhà cửa nên bà H4 có cho ông P đến phần đất này cất nhà ở, giữ gìn, cải tạo đất để không bị hoang hóa sẽ bị Nhà nước thu hồi đất. Bà H4 hứa sau này sẽ cắt một phần đất cho ông P sinh cơ lập nghiệp. Ông P nhận lời nên đến cất nhà ở, giữ gìn đất từ trước năm 1975 cho đến khi ông P chết năm 2019, vợ và các con ông P là bà Nguyễn Thị C (vợ), con là bà Ngô Thị Bích H1, bà Trương Thị Ngọc B1, ông Nguyễn Văn H3 tiếp tục sử dụng cho đến nay. Do đất của bà H4 nên ông P không có quyền kê khai, đăng ký.

Khoảng năm 1990, bà H4 kê khai đăng ký đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ trắng), bà H4 nói với ông P nếu bà H4 có bán đất cũng chừa lại cho ông P một phần để tính công sức giữ gìn đất cho bà H4. Khi bà H4 tuổi già sức yếu giao đất lại cho con là bà Trì M bằng giấy ủy quyền, khi làm giấy ủy quyền bà H4 nói với bà M, ông P là bà M phải thực hiện lời hứa chừa phần đất cho ông P đã cất nhà ở và chỉ rõ ranh giới, cắm cọc làm hàng rào để không ai lật ngược lời hứa, lấy lại đất, hiện ranh giới vẫn còn duy trì cho đến nay.

Sau đó, bà M đứng tên quyền sử dụng đất nhưng gia đình ông P trực tiếp quản lý, sử dụng đất. Đến ngày 03/7/2001, bà M chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H5 theo Tờ thỏa thuận, để việc chuyển nhượng đất rõ ràng, không để xảy ra tranh chấp sau này nên bà M đề nghị ông P ký tên đồng ý việc chuyển nhượng và để lại phần diện tích 267m² cho ông P để tính công sức giữ gìn đất đúng với vị trí bà H4 đã chỉ. Tờ thỏa thuận chuyển nhượng đất giữa bà M với ông T1, bà H5 có đoạn đầu ghi “nay vì tôi không có nhu cầu sử dụng và chuyển sang ngành nghề khác nên tôi đã chuyển quyền sử dụng và quản lý thửa đất nói trên...”, đoạn cuối ghi “với tổng diện tích tôi chuyển nhượng lại cho ông T1 và bà H5, số diện tích đất nông nghiệp còn lại tôi và gia đình tôi đồng ý giao lại cho ông Ngô Văn P1 quản lý và sử dụng”, đồng thời ký tên bên sang nhượng là bà Trì M, bên nhận đất là 1. Nguyễn Văn T1, 2. Nguyễn Thị H5, 3. Ngô Văn P1.

Sau đó ông P1 có đề nghị bà M làm giấy tờ sang tên cho ông P1 thì bà M hẹn và nói đã giao đất cho gia đình ông P1 ở ổn định. Tờ thỏa thuận đã ký giao phần đất còn lại cho ông P1 rồi, khi nào rảnh bà M làm giấy tờ cho. Năm 2005, ông P1 cho con gái là Trương Thị Ngọc B1 cất nhà ở trên một phần đất này. Năm 2010,

ông P1 cho con trai là Nguyễn Văn H3 cất một căn nhà trên phần đất này, bà M biết việc các con của ông P1 cất nhà ở trên đất này nhưng không có ý kiến gì.

Ông P1 là người có công sức bảo vệ, giữ gìn và duy trì canh tác trên thửa đất 87, 88 của bà H4 từ trước năm 1975. Do đó, bà M đã thống nhất giao phần đất còn lại sau khi chuyển nhượng cho ông T1, bà H5 để ông P1 toàn quyền quản lý, sử dụng là có đủ căn cứ chứng minh ý chí của bà M thực hiện lời hứa của bà H4. Bà M không còn phần đất nào để đăng ký sử dụng nhưng lại xin cấp đổi lại giấy chứng nhận phần đất đã giao cho ông P1 là trái pháp luật.

Bị đơn bà Ngô Thị Bích H1 phản tố yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00001/QSDĐ/TTLT ngày 7/5/2001 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) T cấp điều chỉnh cho bà Trì M đối với diện tích đất còn lại 267m² thuộc thửa 87, 88, tờ bản đồ số 35, tọa lạc tại khu phố L, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C trình bày: Bà Nguyễn Thị C thống nhất lời trình bày của bị đơn bà Ngô Thị Bích H1 và trình bày thêm ông Ngô Văn P1 là chồng của bà C. Phần đất diện tích theo giấy chứng nhận 267m² có sự đóng góp công sức của vợ chồng bà C, ông P1 nên bà C có 50% quyền lợi đối với diện tích đất 267m². Do ông P1 đã chết nên bà C và các con của ông P1 là đồng thừa kế tài sản của ông P1, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà H1 di dời tài sản trả lại đất cho nguyên đơn là ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bà C và các thừa kế của ông P1. Bà C có yêu cầu độc lập về việc công nhận công sức đóng góp của bà C trong diện tích đất 267m² và công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho bà Nguyễn Thị C và các đồng thừa kế của ông Ngô Văn P1 đối với diện tích đất 267m² thuộc thửa đất 87, 88 tờ bản đồ số 35, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H3 và bà Nguyễn Thị Lệ Q1 thống nhất trình bày: Ông H3 là con của ông P1 và bà C. Ông H3 và bà Q1 là vợ chồng có 03 người con sống chung với nhau tại căn nhà xây dựng trên thửa đất 87, 88 đang tranh chấp. Ông H3, bà Q1 yêu cầu được tiếp tục quản lý, sử dụng và sinh sống trên phần đất tranh chấp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Ngọc B1 và ông Lê Quang H2 thống nhất trình bày: Bà B1 là con của ông P1, bà C. Bà B1 với ông Lê Quang H2 là vợ chồng, có một người con sinh năm 2007, bà B1 và ông H2 xây dựng một căn nhà trên phần đất tranh chấp sinh sống cho đến nay. Bà B1, ông H2 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương trình bày: Ủy ban nhân dân thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 839 QSDĐ/TTLT ngày 04/5/1999 cho bà Trì M, khu đất có tổng diện tích 1.343m². Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại Điều 3, Điều 36 Luật Đất đai năm 1993, Quyết định số 201- QĐ/ĐKTK ngày 14/7/1989 của T3 là đúng trình tự, thủ tục quy định.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 09/4/2024 (đã được sửa chữa, bổ sung tại Quyết định số 12/QĐ-SCBSBA ngày 15/4/2024) của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, đã tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trì M là ông Nguyễn Văn Ơ, bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N, bà Nguyễn Ngọc Phương Q) đối với bị đơn bà Ngô Thị Bích H1 về việc yêu cầu trả lại diện tích 267m² thuộc thửa đất số 87, 88, tờ bản đồ số 35 tọa lạc tại phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương và buộc bị đơn phải tháo dỡ các công trình trên đất.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Ngô Thị Bích H1 và yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị C.
    1. Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 267m² thuộc thửa đất 87 và 88 tờ bản đồ số 35, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương cho bà Nguyễn Thị C, bà Ngô Thị Bích H1, bà Trương Thị Ngọc B1, ông Nguyễn Văn H3.
    2. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00001/TTLT ngày 07/5/2001 cập nhật biến động ngày 01/8/2007 cấp cho bà Trì M.
    3. Bà Nguyễn Thị C, bà Ngô Thị Bích H1, bà Trương Thị Ngọc B1, Nguyễn Văn H3 được quyền kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 267m² thuộc thửa đất 87 và 88 tờ bản đồ số 35, tọa lạc tại phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo quy định của pháp luật (có bản vẽ kèm theo).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 12/4/2024, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn gồm ông Nguyễn Văn Ơ, bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N, bà Nguyễn Ngọc Phương Q làm đơn kháng cáo nêu lý do: Bản án sơ thẩm không thỏa đáng, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xử lại, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Phía nguyên đơn có ông Nguyễn Văn Ơ, bà Đặng Thị Minh H và phía bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ông Lưu Văn B cùng thống nhất đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về các nội dung:

  • Bà Ngô Thị Bích H1 được quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 87,88, tờ bản đồ số 35, tọa lạc tại khu phố L, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, đo đạc thực tế là 267m² (trong đó có 100m² ODT, 167m² CLN, theo Mảng trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 462-2021 ngày 17/3/2021, trong đó có 14,8m² CLN thuộc HLBVĐT, đã trừ 13,9 m² mương nước theo GCN, đã trừ 12,9 m² nằm ngoài GCN), diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (số 00001/QSDĐ/TTLT do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho bà T2 M ngày 07/5/2001, đăng ký biến động ngày 01/8/2007, lần cuối ngày 20/6/2018) diện tích còn lại là 267m² (trong đó có 100m² ODT + LNQ + HLATĐB );
  • Bà Ngô Thị Bích H1 phải bồi thường cho Ông Nguyễn Văn Ơ, Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N, Bà Nguyễn Ngọc Phương Q số tiền 1.650.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng). Thời hạn giao tiền là 90 (chín mươi) ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Ghi nhận sự tự nguyện của Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N, Bà Nguyễn Ngọc Phương Q để lại toàn bộ số tiền thừa kế của mình cho ông Nguyễn Văn Ơ được thừa kế toàn bộ số tiền 1.650.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng);
  • Ghi nhận sự thỏa thuận của Bà Ngô Thị Bích H1 và Bà Nguyễn Thị C, Bà Trương Thị Ngọc B1, Ông Lê Quang H2, Ông Nguyễn Văn H3, Bà Nguyễn Thị Lệ Q1 về việc Bà Ngô Thị Bích H1 được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất (thuộc thửa đất số 87,88, tờ bản đồ số 35 nêu trên);
  • Kiến nghị thu hồi và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00001/QSDĐ/TTLT do Ủy ban nhân dân huyện T (nay là Ủy ban nhân dân thành phố T) cấp cho bà T2 Mỹ ngày 07/5/2001, đăng ký biến động lần cuối ngày 20/6/2018.
  • Bà Ngô Thị Bích H1 được quyền liên hệ với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê khai, đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 267m² (trong đó có 100m² ODT, 167m² CLN) cùng toàn bộ tài sản trên đất thuộc thửa đất số 87,88, tờ bản đồ số 35, tọa lạc tại khu phố L, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo quy định pháp luật (có bản vẽ kèm theo).
  • Về chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định, đo đạc, định giá): 2.110.652 đồng (hai triệu một trăm mười nghìn sáu trăm năm mươi hai đồng), phía nguyên đơn tự nguyện chịu và đã nộp đủ ở cấp sơ thẩm.
  • Về án phí: các đương sự thỏa thuận để ông Ơ chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, tuy nhiên ông Ơ là người cao tuổi, ông Ơ đã có đơn xin giảm án phí tại cấp sơ thẩm, do đó để nghị Toà án xem xét cho ông Ơ được miễn án phí theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng, quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện đúng quy định của pháp luật, những người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định; Về nội dung, xét thấy thỏa thuận của các bên đương sự tại phiên tòa phúc thẩm là tự nguyện, đề nghị công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn Ơ, bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N, bà Nguyễn Ngọc Phương Q làm trong hạn luật định nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.
  2. [2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo của đương sự:

Tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn và phía bị đơn đã thỏa thuận được với nhau về nội dung việc giải quyết tranh chấp.

Xét thấy, việc thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện và không trái pháp luật, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự theo quy định của pháp luật.

  1. [3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn Ơ đồng ý tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đối với phần của phía bị đơn, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm ghi nhận sự tự nguyện của ông Ơ.

Do ông Ơ là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xem xét miễn án phí đối với phần mà ông Ơ được miễn phải chịu theo quy định; và ông Ơ còn phải chịu phần án phí có giá ngạch đối với phần án phí của bị đơn với số tiền như sau: 50% (36.000.000 đồng + 3% 1.650.000.000 đồng) = 30.750.000 đồng.

  1. [4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Công nhận sự thỏa thuận nên các đương sự kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo luật định. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Ơ là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên ông Ơ được miễn án phí dân sự phúc thẩm; bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N và bà Nguyễn Ngọc Phương Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Bởi các lẽ trên,

Áp dụng Điều 308 Bộ Luật tố tụng Dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 212, 213, 235 và 246 Bộ Luật tố tụng Dân sự.

  1. 1/ Công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự như sau:
    1. 1.1/ Bà Ngô Thị Bích H1 được quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 87,88, tờ bản đồ số 35, tọa lạc tại khu phố L, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, đo đạc thực tế là 267m² (trong đó có 100m² ODT, 167m² CLN, theo Mảng trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 462-2021 ngày 17/3/2021, trong đó có 14,8m² CLN thuộc HLBVĐT, đã trừ 13,9 m² mương nước theo GCN, đã trừ 12,9 m² nằm ngoài GCN), diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (số 00001/QSDĐ/TTLT do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho bà T2 Mỹ ngày 07/5/2001, đăng ký biến động ngày 01/8/2007, lần cuối ngày 20/6/2018) diện tích còn lại là 267m² (trong đó có 100m² ODT + LNQ + HLATĐB );
    2. 1.2/ Bà Ngô Thị Bích H1 phải bồi thường cho Ông Nguyễn Văn Ơ, Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N, Bà Nguyễn Ngọc Phương Q số tiền 1.650.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng). Thời hạn giao tiền là 90 (chín mươi) ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
    3. 1.3/ Ghi nhận sự tự nguyện của Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N, Bà Nguyễn Ngọc Phương Q để lại toàn bộ số tiền thừa kế của mình cho ông Nguyễn Văn Ơ được thừa kế toàn bộ số tiền 1.650.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng).
    4. 1.4/ Ghi nhận sự thỏa thuận của Bà Ngô Thị Bích H1 và Bà Nguyễn Thị C, Bà Trương Thị Ngọc B1, Ông Lê Quang H2, Ông Nguyễn Văn H3, Bà Nguyễn Thị Lệ Q1 về việc Bà Ngô Thị Bích H1 được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất (thuộc thửa đất số 87,88, tờ bản đồ số 35 nêu trên);
    5. 1.5/ Kiến nghị thu hồi và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00001/QSDĐ/TTLT do Ủy ban nhân dân huyện T (nay là Ủy ban nhân dân thành phố T) cấp cho bà T2 Mỹ ngày 07/5/2001, đăng ký biến động lần cuối ngày 20/6/2018.
    6. 1.6/ Bà Ngô Thị Bích H1 được quyền liên hệ với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê khai, đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 267m² (trong đó có 100m² ODT, 167m² CLN) cùng toàn bộ tài sản trên đất thuộc thửa đất số 87,88, tờ bản đồ số 35, tọa lạc tại khu phố L, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo quy định pháp luật (có bản vẽ kèm theo).
  2. 2/ Về chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định, đo đạc, định giá): 2.110.652 đồng (hai triệu một trăm mười nghìn sáu trăm năm mươi hai đồng), phía nguyên đơn tự nguyện chịu và đã nộp đủ ở cấp sơ thẩm.
  3. 3/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. 3.1/ Ông Nguyễn Văn Ơ phải chịu số tiền 30.750.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Biên lai thu tiền số 0055479 ngày 04/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, ông Nguyễn Văn Ơ còn phải nộp số tiền án phí là 30.450.000 (ba mươi triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng.
    2. 3.2/ Hoàn trả cho bà Ngô Thị Bích H1 số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền số 0055479 ngày 04/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
  4. 4/ Về án phí dân sự phúc thẩm:
    1. 4.1/ Ông Nguyễn Văn Ơ được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
    2. 4.2/ Bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm, theo Biên lai thu số 0000149 ngày 15/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương (do bà Đặng Thị Minh H nộp thay). Như vậy bà Nguyễn Ngọc Quỳnh N đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
    3. 4.3/ Bà Nguyễn Ngọc Phương Q phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm, theo Biên lai thu số 0000150 ngày 15/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương (do bà Đặng Thị Minh H nộp thay). Như vậy bà Nguyễn Ngọc Phương Q đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
  5. 5/ Kể từ ngày có đơn yêu cầu Thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  6. 6/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. 7/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • – Tòa án nhân dân tối cao;
  • – VKSNDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • – TAND tỉnh Bình Dương;
  • – VKSND tỉnh Bình Dương;
  • – Cục THADS tỉnh Bình Dương;
  • – CCTHADS thành phố Thuận An,
  • tỉnh Bình Dương;
  • – Các đương sự;
  • – Lưu văn phòng; hồ sơ vụ án, TPQ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ HOÀNG TẤN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2025/DS-PT ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 57/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của đương sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger