Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-7-2024

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Cao Thị Diệu Hiền

Ông Nguyễn Văn Hai

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Bích Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:

Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15 và ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 110/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/5/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thùy D, sinh năm 1979

Địa chỉ: Số D, TL H, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.

Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1975

Địa chỉ: Số D, TL H, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.

Chị D có đơn xin vắng mặt, anh H vắng mặt (anh H đã mất tích).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình tham gia tố tụng tại tòa án nguyên đơn chị Lê Thị Thùy D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh H quen biết, tìm hiểu nhau được khoảng 01 năm thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn vào ngày 10/02/1999 tại UBND xã T, thành phố S, Đồng Tháp. Sau khi kết hôn, cả hai về sống chung bên nhà cha mẹ anh H. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2020, anh H ăn chơi, cờ bạc thiếu nợ nhiều người nên bỏ nhà đi cho đến nay không có tin tức. Chị D đã dùng nhiều biện pháp, tìm kiếm nhiều nơi nhưng vẫn không có tin tức gì của anh H. Cuối năm 2023, chị D nộp đơn yêu cầu Tòa án Sa Đ tuyên bố anh H mất tích. Ngày 12/3/2024, Tòa án Sa Đéc có quyết định số 07/2024/QÐST-VDS tuyên bố anh H mất tích. Từ đó đến nay gia đình cũng không có tin tức gì của anh H, hiện không biết anh H đang ở đâu. Nay chị Lê Thị Thùy D yêu cầu ly hôn anh Trần Văn H vì tình cảm không còn, vợ chồng đã sống ly thân trong một thời gian dài.

Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Trần Ngọc Bảo T, sinh năm 2001 và Trần Hải Đ1, sinh ngày 13/12/2009, hiện 02 con đang sống chung với chị D. Khi ly hôn, chị D yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con tên Trần Hải Đ1, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Đối với con tên Trần Ngọc Bảo T, đã thành niên không yêu cầu giải quyết.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, chị D không còn yêu cầu gì khác.

* Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 27/5/2024, con của chị D và anh H là cháu Trần Hải Đ1, sinh ngày 13/12/2009 trình bày: Nếu cha và mẹ ly hôn, không sống chung với nhau thì cháu có nguyện vọng được sống với mẹ là chị D.

* Bị đơn anh Trần Văn H đã mất tích, không có văn bản trình bày ý kiến.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa cũng như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị D, chị Lê Thị Thùy D và anh Trần Văn Hải ly h.

Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Đề nghị HĐXX giao con chung tên Trần Hải Đ1, sinh ngày 13/12/2009 cho chị D nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con do chị D không yêu cầu nên không xem xét. Đối với con tên Trần Ngọc Bảo T, sinh năm 2001 đã thành niên nên không xem xét.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Đề nghị HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Đề nghị HĐXX xem xét theo quy định pháp luật. (Có bài phát biểu kèm theo).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã T, thành phố S, tỉnh Đ. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tháng 3/2024, chị D đã nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh H mất tích để chị D bổ sung tài liệu chứng cứ khởi kiện xin ly hôn anh H. Quá trình thụ lý, giải quyết, Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc đã đăng tin thông báo tìm kiếm anh H trên các phương tiện thông tin đại chúng theo đúng quy định nhưng vẫn không có tin tức gì về anh H. Ngày 12/3/2024, Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc có Quyết định số 07/2024/QÐST-VDS về việc tuyên bố anh Trần Văn H mất tích. Quyết định tuyên bố anh H mất tích đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị.

Ngày 22/5/2024, Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của chị D về việc xin ly hôn anh H. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tống đạt (niêm yết công khai) các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh H vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, các thủ tục tố tụng để mở phiên tòa xét xử vụ án đã được thực hiện đầy đủ và đúng quy định pháp luật. Đối với nguyên đơn chị Lê Thị Thùy D có đơn xin xét xử vắng mặt và yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về nội dung vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh H chung sống vợ chồng từ năm 1999, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn vào ngày 10/02/1999 tại UBND xã T, thành phố S, Đồng Tháp. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh H được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị D trình bày, sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020, anh H ăn chơi, cờ bạc thiếu nợ nhiều người nên bỏ nhà đi cho đến nay không có tin tức. Chị D đã dùng nhiều biện pháp, tìm kiếm nhiều nơi nhưng vẫn không có tin tức gì của anh H. Cuối năm 2023, chị D nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh H mất tích. Ngày 12/3/2024, Tòa án Sa Đéc cũng có quyết định số 07/2024/QÐST-VDS tuyên bố anh H mất tích. Từ đó đến nay gia đình cũng không có tin tức gì của anh H, hiện không biết anh H đang ở đâu.

Tại Khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“...2. Trong trường hợp vợ chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. ...”

Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân giữa chị D và anh H đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh H bỏ nhà ra đi từ năm 2020 đến nay không có tin tức và cũng không liên lạc về nhà hỏi thăm gia đình. Phía chị D vắng mặt tại phiên tòa nhưng vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn anh H. Từ đó, cho thấy hôn nhân giữa chị D và anh H đã không còn hạnh phúc. Do đó, chị D yêu cầu ly hôn anh H là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.2] Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị D xác định, quá trình chung sống với anh H có 02 con chung tên Trần Ngọc Bảo T, sinh năm 2001 và Trần Hải Đ1, sinh ngày 13/12/2009, hiện 02 con đang sống chung với chị D. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi sinh ra 02 cháu Bảo T và Hải Đ1 sống chung với chị D và anh H, từ năm 2020, anh H bỏ nhà đi không có về thăm con, 02 cháu Bảo T và Hải Đ1 được chị D và gia đình anh H thương yêu, quan tâm, chăm sóc đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần. Do đó, nhằm đảm bảo cho các cháu có sự phát triển toàn diện về tâm sinh lý, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao Trần Hải Đ1 cho chị D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn là phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của cháu Đ1. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Riêng cháu Trần Ngọc Bảo T đã thành niên, chị D không có yêu cầu gì trong vụ án này nên không xem xét, giải quyết.

[3.3] Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị D xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Thùy D phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) theo quy định của pháp luật.

Đối với ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Thùy D. Cho chị Lê Thị Thùy D và anh Trần Văn Hải ly h.

Về nuôi con chung: Chị Lê Thị Thùy D được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau ly hôn tên Trần Hải Đ1, sinh ngày 13/12/2009, hiện con đang sống chung với chị D.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị Thùy D không yêu cầu anh Trần Văn H cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này nên không xem xét giải quyết.

Đối với con tên Trần Ngọc Bảo T, sinh năm 2001 đã thành niên nên không xem xét, giải quyết.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Lê Thị Thùy D nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị D đã nộp ngày 22/5/2024 theo biên lai thu số 0004202 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ toàn bộ vào án phí phải nộp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo luật định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Phấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị D yêu cầu ly hôn anh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger