Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ QUAO

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29/7/2024.

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.
  2. Ông Trần Đắc Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên toà: Bà Thị Xà Ly – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 90/2024/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 3 năm 2024, về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 09 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị Mỹ X – sinh năm 1998, có đơn xin vắng mặt. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
  2. Bị đơn: Ông Danh V – sinh năm 1993, vắng mặt. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/3/2024, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Dương Thị Mỹ X như sau:

Vào năm 2020, bà và ông Danh V tổ chức đám cưới, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G vào ngày 07/02/2020.

Vợ chồng sống chung hạnh phúc được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không tin tưởng nhau, ông Danh V ghen tuông vô cớ nên vợ chồng thường xuyên cự cãi và vợ chồng bà đã sống ly thân từ tháng 7/2023 đến nay. Hiện vợ chồng không còn khả năng chung sống với nhau được nữa và bà không còn tình cảm yêu thương ông Danh V nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Danh V.

Thời gian chung sống vợ chồng bà có 01 người con chung tên Danh Thị Như Y - sinh ngày 17/01/2021, hiện nay chồng bà đang nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Vợ chồng bà không có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà cam đoan vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau khi vợ chồng bà ly hôn mà có người kiện vợ chồng bà đòi nợ chung thì bà hoàn toàn chịu trách nhiệm trả nợ chung theo quy định của pháp luật.

Nguyện vọng:

Về hôn nhân: Bà xin được ly hôn với ông Danh V.

Về con chung: Hiện chồng bà đang nuôi con, chồng bà rất thương con, bản thân bà không có điều kiện nuôi con, do bà đi làm suốt nên không có thời gian chăm con vì vậy bà đồng ý để ông Danh V tiếp tục nuôi con chung tên Danh Thị Như Y - sinh ngày 17/01/2021 và bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Danh V đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông Danh V không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông Danh V.

- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa:

Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không có lý do là không tuân thủ pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Dương Thị Mỹ X được ly hôn với ông Danh V. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Danh Thị Như Ý - sinh ngày 17/01/2021 cho ông Danh V tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Dương Thị Mỹ X và ông Danh V là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Danh V là bị đơn trong vụ án, ông Danh V có địa chỉ rõ ràng, đó cũng là nơi ông đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay ông Danh V vẫn còn hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên. Tòa án đã niêm yết các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Danh V vắng mặt tại phiên tòa 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Danh V.

Bà Dương Thị Mỹ X có đơn xin vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của bà Dương Thị Mỹ X không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Dương Thị Mỹ X.

[2] Về hôn nhân: Bà Dương Thị Mỹ X và ông Danh V cưới nhau vào năm 2020, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 30/2020, ngày 07/02/2020, như vậy Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của bà Dương Thị Mỹ X và ông Danh V là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

[3] Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của bà Dương Thị Mỹ X và ông Danh V là hôn nhân tự nguyện, vợ chồng ông bà đã sống hạnh phúc được khoảng 03 năm nhưng trong quá trình sống chung vợ chồng bà đã phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được. Bà Dương Thị Mỹ X cho rằng do vợ chồng không tin tưởng nhau, ông Danh V ghen tuông vô cớ nên vợ chồng thường xuyên cự cãi và vợ chồng bà đã sống ly thân từ tháng 7/2023 đến nay. Trong thời gian ly thân, ông Danh V không còn liên lạc với bà và cũng không cho bà liên lạc với con. Ngày 29/5/2024 và ngày 19/6/2024, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng ông Danh V vắng mặt và bà Dương Thị Mỹ X cương quyết ly hôn với ông Danh V. Xét thấy, vợ chồng bà Dương Thị Mỹ X và ông Danh V đã sống ly thân với nhau, trong thời gian này, ông Danh V và bà Dương Thị Mỹ X không tìm được tiếng nói chung và không còn liên lạc với nhau. Khi Tòa án mời ông Danh V đến Tòa án để hòa giải, động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ thì ông Danh V không có mặt cho thấy ông không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này và cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được. Bà Dương Thị Mỹ X cương quyết xin ly hôn với ông Danh V và tỏ rõ thái độ không còn tình cảm yêu thương ông Danh V, vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Dương Thị Mỹ X.

[4] Về con chung: Bà Dương Thị Mỹ X và ông D Vàng có 01 người con chung tên Danh Thị Như Y - sinh ngày 17/01/2021 hiện nay ông Danh V đang nuôi dưỡng. Bà Dương Thị Mỹ X đồng ý giao người con chung tên Danh Thị Như Y - sinh ngày 17/01/2021 cho ông Danh V tiếp tục nuôi dưỡng, không có yêu cầu gì về con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Danh V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Dương Thị Mỹ X không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[7] Tại phiên tòa sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí HNGĐST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Bà Dương Thị Mỹ X phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0007986, ngày 27/3/2024, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

  1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Mỹ X.
  2. Về hôn nhân: Xử cho bà Dương Thị Mỹ X và ông Danh V được ly hôn với nhau.

    Về con chung: Giao cháu Danh Thị Như Y - sinh ngày 17/01/2021 cho ông Danh V tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

    Bà Dương Thị Mỹ X được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được phép cản trở bà Dương Thị Mỹ X thực hiện quyền này.

    Các đương sự có quyền nộp đơn yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

    Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

  3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Dương Thị Mỹ X phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0007986, ngày 27/3/2024, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
  4. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
  5. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh;
  • -VKS Gò Quao;
  • -Chi cục THA;
  • -UBND xã;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ.

TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Thùy Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Dương Thị Mỹ X yêu cầu ly hôn với ông Danh V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger