Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 57/2024/HSST

Ngày 15/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tiến Đông.
  • Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Minh Tín và bà Đỗ Thị Liên.
  • - Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Loan - Thẩm tra viên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: bà Phan Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 54/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với:

  • - Bị cáo Nguyễn Duy H, sinh năm 1999, tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: thôn S, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Văn H1 và bà Dương Thị N; vợ; con: chưa có;
  • Tiền án: Ngày 18/4/2018 bị Toà án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 28/4/2020 chấp hành xong về địa phương.
  • Ngày 11/3/2021 bị Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 21/5/2022 chấp hành xong về địa phương.
  • Bị can bị tạm giữ từ ngày 26/01/2024 đến ngày 04/02/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị can đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
  • - Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thị N1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; có mặt.
  • - Bị hại: chị Vì Thị H2, sinh năm 1993; nơi ĐKNKTT: T, Bản C, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; chỗ ở hiện nay: tổ dân phố N, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam; có mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Bùi Thị H3, sinh năm 1982; địa chỉ: Khu D, thị trấn T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  • - Người làm chứng:
    1. chị Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1984; nơi ĐKNKTT: thôn T, xã Đ, huyện P, thành phố Hà Nội; chỗ ở hiện nay: TDP N, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt
    2. anh Đào Văn H4, sinh năm 1980; địa chỉ: thôn B, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 26/01/2024, Nguyễn Duy H, sinh năm 1999 ở thôn S, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam, đi bộ từ quán G ở tổ dân phố N, phường Đ, thị xã D trên đường Q đến tổ dân phố Đ, phường Đ, thị xã D tìm sơ hở của người dân để trộm cắp. Khi đi đến khu vực nhà trọ của chị Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1984 ở tổ dân phố N, phường Đ, thị xã D cách chợ Đ khoảng 100 mét thì H nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, số loại LIBERTY màu đen, biển kiểm soát 15H1 - 067.51 của chị Vì Thị H2, sinh năm 1993, HKTT: T, Bản C, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; đang tạm trú ở tổ dân phố N, phường Đ, thị xã D dựng ở trong dãy trọ, trước cửa phòng của chị H2 nên H nảy sinh ý định trộm cắp. Quan sát xung quanh không thấy ai H tiến lại gần vị trí chiếc xe rồi lấy vam phá khoá để trong người đã chuẩn bị từ trước, chọc vào ổ khoá điện của xe mô tô và dùng tay phải vặn phá khoá xe mô tô. Sau khi phá được khoá điện, H thấy đèn báo trên đồng hồ của xe sáng, H dắt xe ra định nổ máy để bỏ chạy thì bị chị Nguyễn Thị Kim T (chủ dãy nhà trọ) phát hiện. Thấy nghi vấn nên chị T có hỏi: “Xe của ai mà lấy?”, H trả lời: “Xe của em”, chị T biết chiếc xe mô tô là xe của chị Vì Thị H2, người thuê phòng trọ nên chị T có nói to: “Em ở phòng nào, kiếm ai” thì H không trả lời, sau đó H bỏ chạy về hướng phòng khám Đ1. Do nghe thấy tiếng chị T hô lên anh Đoàn Văn H5, sinh năm 1980 ở thôn B, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội từ trong nhà chạy ra, đuổi theo và bắt được H giữ lại sau đó lực lượng Công an phường Đ đến và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tôi quả tang đối với Nguyễn Duy H.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã tạm giữ: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, số loại LIBERTY, màu đen, biển kiểm soát 15H1 - 067.51, số khung: M731M4026105, số máy: 3100BV025332; 01 đoạn kim loại màu bạc hình chữ L, đoạn ngắn hình lục giác dài 4,5 cm; đoạn dài hình lục giác, có đầu được mài nhọn, tổng chiều dài 20 cm, trong đó đầu được mài nhọn dài 06 cm; 01 đoạn kim loại màu bạc một đầu hình lục giác, một đầu được mài nhọn, tổng chiều dài 08 cm, trong đó đầu được mài nhọn dài 3,5 cm; 01 tay công vặn ốc bằng kim loại màu bạc, có tay cầm bằng nhựa màu đỏ, tổng chiều dài 15,5cm. Trong đó: phần tay cầm bằng nhựa màu đỏ dài 6,5cm, phần kim loại màu bạc dài 09cm. Phần đầu kim loại của tay công được đấu nối với một đoạn kim loại màu bạc hình trụ, bên trong rỗ có cạnh hình lục giác, đoạn nối có chiều dài 2,5cm; 01 tô vít bốn cạnh, có tay cầm bằng nhựa màu cam đen bên trên có dòng chữ Kapusi màu cam, một đầu bằng kim loại màu bạc hình lục giác, tổng chiều dài 20cm. Trong đó: phần tay cầm bằng nhựa màu cam đen dài 11 cm, phần kim loại màu bạc hình lục giác dài 09cm; 01 đoạn kim loại màu bạc một đầu hình lục giác, một đầu được mài nhọn, tổng chiều dài 07 cm, trong đó đầu được mài nhọn dài 4,5 cm.

Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã có văn bản yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự T định giá đối với: Xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, số loại LIBERTY, màu đen, biển kiểm soát 15H1-067.51 đã thu giữ;

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐ ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã D kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, số loại LIBERTY, màu đen, biển kiểm soát 15H1-067.51, số khung: M731M4026105, số máy: 3100BV025332, trị giá 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Về xử lý vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công thị xã D xác định: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, số loại LIBERTY, màu đen, biển kiểm soát 15H1 - 067.51 (đã qua sử dụng) là tài sản hợp pháp của hợp pháp là chị Vì Thị H2, sinh năm 1993 ở bản C, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản là chiếc 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, số loại LIBERTY, màu đen, biển kiểm soát 15H1 - 067.51 cho chị H2 là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Vì Thị H2 đã nhận lại tài sản là 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, số loại LIBERTY, màu đen, biển kiểm soát 15H1 - 067.51 và không có yêu cầu gì thêm về chiếc xe.Tại Cơ quan CSĐT Công an thị xã D, Nguyễn Duy H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 51/CT-VKS-DT ngày 03/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm p, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Duy H từ 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2024. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự và án phí của vụ án.

Trong phần tranh luận: Người bào chữa cho bị cáo sau khi phân tích mọi mặt về bệnh tật, hoàn cảnh, sự thật thà, ăn năn hối cải của bị cáo đã đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức án thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận bổ sung, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sơ nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, những người tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh, tính chất, mức độ tội phạm: Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 06 giờ 00 phút, ngày 26/01/2024, tại khu vực nhà trọ của chị Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1984 ở tổ dân phố N, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản, Nguyễn Duy H đang có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, số loại LIBERTY màu đen, biển kiểm soát 15H1 - 067.51, có giá trị 4.500.000 đồng của chị Vì Thị H2, sinh năm 1993 ở bản C, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La dựng ở trong dãy trọ thì bị bắt quả tang.

Bản thân Nguyễn Duy H đã có 02 tiền án, đã bị áp dụng tình tiết “Tái phạm” chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Cụ thể: Ngày 18/4/2018 bị Toà án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 28/4/2020; Ngày 11/3/2021 bị Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 21/5/2022). Vì vậy, lần phạm tội này của Nguyễn Duy H được tính là "Tái phạm nguy hiểm".

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân rất xấu nhưng bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, an năn hối cải về hành vi phạm tội. Ngoài ra bị cáo là người đang mắc bệnh H6 (bệnh máu khó đông) và đang được hưởng trợ cấp đối với người khuyết tật đặc biệt nặng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ nhận định trên xét thấy mặc dù bị cáo Nguyễn Duy H đã nhiều lần bị kết án nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện vì thế cần phải ấn định mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc, thu nhập nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: chị Vì Thị H2 đã nhận lại tài sản là 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Piaggio, số loại Liberty, màu đen, BKS 15H1-067.51 và không có yêu cầu gì thêm về chiếc xe nên không đặt ra giải quyết.

[6] Về vật chứng, tài liệu thu giữ: Đối với 01 đoạn kim loại hình lục giác màu trắng, dài 20cm, cấu tạo theo chữ L, đầu mài nhọn; 02 tay công bằng kim loại, chuôi màu đỏ, dài 15,5cm; 01 chiếc tô vít dài 20cm, tay cầm màu vàng cam có chữ K là những vật chứng liên quan và sử dụng vào việc phạm tội nên HĐXX xét tịch thu cho tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự.

Căn cứ: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm p, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Duy H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2024.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu cho tiêu hủy: 01 Đoạn kim loại hình lục giác màu trắng, dài 20cm, cấu tạo theo chữ L, đầu mài nhọn; 02 Đoạn sắt lục giác; 01 tay công bằng kim loại, chuôi màu đỏ, dài 15,5cm; 01 chiếc tô vít dài 20cm, tay cầm màu vàng cam có chữ K (Tình trạng, đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận giữa Công an thị xã D và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 05/4/2024).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Nguyễn Duy H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Cơ quan THAHS Công an tx Duy Tiên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HSST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 57/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy Hưng phạm tội TCTS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger