Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KHOÁI CHÂU

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HSST

Ngày: 25/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tiến Trung.

Hội thẩm nhân dân: Bà Tràng Thị Thuý và bà Trần Thị Bình.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 25/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2024/TLST-HS ngày 28/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HS ngày 12/7/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu H, sinh năm 1983; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn X, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1940; Con bà Nguyễn Thị K1 (đã chết); A, chị, em ruột: có 05 người, bị cáo là thứ năm; Vợ: Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1987; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 10/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K (bị cáo có mặt phiên toà).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Trung T, sinh năm 1990

Trú tại: Thôn D, xã H, huyện P, thành phố Hà Nội

* Người làm chứng:

  1. Anh Đồng Văn T1, sinh năm 1990
    Trú tại: Tổ dân phố Rừng, phường Dị Sử, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
  2. Chị Lê Thị H2, sinh năm 1976
    Trú tại: Thôn Thượng, xã An Vĩ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
  3. Anh Nguyễn Duy A, sinh năm 2005
    Trú tại: thôn Từ Hồ, xã Yên Phú, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên
  4. Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1974
    Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên
  5. Anh Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1995
    Trú tại: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên
  6. Anh Đỗ Hữu Đ, sinh năm 1990
    Trú tại: Thôn Bắc Châu, xã Đông Kết, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
  7. Anh Lê Đình T2, sinh năm 1988
    Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên
  8. Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1987
    Trú tại: Thôn Ninh Vũ, xã Bình Kiều, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
  9. Anh Nguyễn Hải H3, sinh năm 1978
    Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên
  10. Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1987
    Trú tại: Thôn T, xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên
  11. Anh Tạ Hữu T3, sinh năm 2000
    Trú tại: thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên
  12. Chị Đỗ Thị T4, sinh năm 1984
    Trú tại: Thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên
  13. Chị Nguyễn Thị Thu H4, sinh năm 1989
    Trú tại: Thôn Q, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên
  14. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1990
    Trú tại: xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên
  15. Anh Vũ Thanh M, sinh năm 1991
  16. Anh Bùi Văn C, sinh năm 1992
  17. Anh Trần Ngọc Q, sinh năm 1991
    Đều trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên
  18. Anh Nguyễn Xuân N2, sinh năm 1995
    Trú tại: Thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên
  19. Anh Lưu Quảng Đ1, sinh năm 1997
    Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  20. Chị Nguyễn Thị Thu T5, sinh năm 1996
  21. Chị Đỗ Thị B, sinh năm 1986
    Đều trú tại: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên
  22. Chị Vũ Thị H5, sinh năm 1980
  23. Chị Đàm Thị T6, sinh năm 1975
    Đều trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  24. Anh Phạm Văn Đ2, sinh năm 1994
    Trú tại: Thôn P, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam.

Tại phiên tòa: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bức xúc với các tiểu thương chợ đầu mối Đông Tảo họp chợ lấn chiếm lòng đường nên ngày 23/12/2023, Nguyễn Hữu H đã 03 lần dừng đỗ xe ô tô tải biển số 29G-019.75 tại khu vực chợ Đ3 thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện K nhằm mục đích buộc Ban quản lý chợ Đ3 phải có biện pháp xử lý đối với các hộ tiểu thương. Hành vi phạm tội của H cụ thể như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 23/12/2023, Nguyễn Hữu H điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu CNHTC (Howo) biển số 29G-019.75 chở cát đi từ bãi cát xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên về công ty T7 thuộc thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Khi điều khiển xe đến đường C, đoạn trước cổng Ủy ban nhân dân xã Đ thì H đánh lái xe ô tô sang phần đường phía bên trái theo hướng xe di chuyển và dừng xe lại mặc dù phía trước xe do H điều khiển không có vật gì cản trở việc di chuyển. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, H tắt máy rồi xuống xe đi đâu không rõ. Đến khoảng 03 giờ 07 phút cùng ngày thì H quay lại xe và điều khiển xe đi về hướng ngã tư xã Đ. Việc H dừng đỗ chiếc xe tải trên khiến chiếc xe ô tô biển số 89H-03142 do anh Phạm Văn Đ2 sinh năm 1994 ở thôn P, xã A, huyện B và một loạt phương tiện giao thông khác không di chuyển được, gây ách tắc toàn bộ khu vực cổng vào Ủy ban nhân dân xã Đ, ách tắc dọc đường ĐT 382 khu vực di chuyển vào hai bên chợ đầu mối Đông Tảo nơi các tiểu thương đang họp chợ; ách tắc khu vực hai bên đường nơi tiểu thương thuê nhà dân để buôn bán trong khoảng 1 giờ đồng hồ, gây cản trở hoạt động buôn bán của tiểu thương tại chợ Đ3.

Đến khoảng 17 giờ 42 phút cùng ngày, H tiếp tục điều khiển chiếc xe ô tô tải biển số 29G-019.75 đi trên đường Đ đến khu vực bưu điện xã Đ thuộc thôn Đ, xã Đ thì dừng lại, thỉnh thoảng H điều khiển xe di chuyển tiến, di chuyển lùi mặc dù phía trước đầu xe không có phương tiện hay vật cản nào khác. Đến khoảng 17 giờ 45 phút thì H điều khiển xe đi về hướng ngã tư chợ Đ3.

Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, H điều khiển chiếc xe tải biển số 29G-019.75 đi theo hướng xã Đ về huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Khi đi qua Ủy ban nhân dân xã Đ khoảng 40m thì H đánh lái xe ô tô sát vào mép đường phải theo chiều đi rồi lùi xe lại chắn ngang đường ĐT 382 đoạn thuộc thôn Đ, xã Đ khiến các phương tiện giao thông là xe ô tô không thể di chuyển được, còn các phương tiện xe mô tô đi lại khó khăn. Sau đó H trèo lên nóc cabin xe, sử dụng điện thoại để quay phim, chụp ảnh. Đến 19 giờ 33 phút, Công an xã Đ mời H xuống làm việc thì H điều khiển xe đi về hướng huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã quản lý 04 file video ghi lại diễn biến sự việc để gửi đi giám định, đồng thời quản lý của H 01 chiếc điện thoại S M53 5G và chiếc xe ô tô tải biển số 29G-019.75. Tại bản kết luận giám định số 13 ngày 09/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận:

- Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video gửi giám định;

- Thời điểm 01:59:59 ngày 23/12/2023 xuất hiện xe ô tô di chuyển từ bên phải sang bên trái (theo hướng trình chiếu video). Thời điểm 02:01:16 xe ô tô dừng lại, phân tích hình ảnh thấy ô tô có biển số 29G-019.75. Thời điểm 02:01:16 đến 03:06:51, xe ô tô biển số 29G-019.75 dừng lại. Thời điểm 03:07:00, xe ô tô biển số 29G-019.75 di chuyển sang bên trái (theo hướng trình chiếu video);

- Thời điểm 17:42:07 ngày 23/12/2023 xe ô tô có biển số 29G-019.75 di chuyển từ bên trái sang phải (theo hướng trình chiếu video) sau đó dừng lại. Thời điểm 17:42:42 xe ô tô có biển số 29G-019.75 di chuyển từ bên trái sang phải (theo hướng trình chiếu video) sau đó dừng lại. Thời điểm 17:42:42 đến 17:45:08 xe ô tô có biển số 29G-019.75 dừng lại. Thời điểm 17:45:19, xe ô tô biển số 29G-019.75 di chuyển sang bên phải (theo hướng trình chiếu video);

- Thời điểm 19:20: 56 ngày 23/12/2023 xuất hiện xe ô tô di chuyển từ bên phải sang bên trái (theo hướng trình chiếu video). Thời điểm 19:21:07 xe ô tô dừng lại, phân tích hình ảnh thấy có ô tô biển số 29G-019.75. Thời điểm từ 19:21:36 đến 19:27:49 xe ô tô biển số 29G-019.75 di chuyển tiến và lùi sau đó chắn ngang đường. Thời điểm 19:27:49 đến 19:31:18 xe ô tô số 29G-019.75 chắn ngang đường. Thời điểm 19:33:21, xe ô tô biển số 29G-019.75 di chuyển sang bên trái (theo hướng chiếu video).

Về vật chứng: Đối với chiếc xe ô tô biển số 29G-019.75, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của anh Nguyễn Trung T, sinh năm 1990 ở thôn D, xã H, huyện P, thành phố Hà Nội thuê H lái xe chở cát cho Công ty T7 thuộc thôn L, xã L, huyện Y. Anh T không biết H sử dụng xe làm phương tiện để phạm tội, do vậy ngày 10/01/2024 Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe nêu trên cho anh T. Chiếc điện thoại di động thu giữ của H, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số: 63/CT-VKS-KC, ngày 28/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra và xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 2 Điều 318; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS, trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M53 5G vỏ màu xanh, bên trong chứa 01 sim thẻ Viettel 4G. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

- Bị cáo không tranh luận gì. Khi được nói lời sau cùng bị cáo trình bầy đã nhận thức được lỗi lầm của mình, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

  2. [2]. Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Qua xem xét sự vắng mặt của họ, Tòa án đã triệu tập, tống đạt hợp lệ nên xét thấy việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo không yêu cầu hoãn phiên tòa. Sau khi thảo luận tại phòng xử án, căn cứ Điều 292 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.

  3. [3]. Chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp khách quan với lời khai của chính bị cáo tại quá trình điều tra và phù hợp với sự thật khách quan của vụ án. Phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Do bức xúc với các tiểu thương chợ đầu mối Đ, họp chợ lấn chiếm lòng đường nên trong khoảng thời gian từ 02 giờ đến 03 giờ 07 phút; 17 giờ 42 đến 17 giờ 45 phút; 19 giờ 20 phút đến 19 giờ 33 phút ngày 23/12/2023 tại khu vực chợ Đ3 thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện K, Nguyễn Hữu H đã điều khiển xe ô tô tải biển số 29G-019.75 cố ý dừng đỗ không đúng quy định gây ảnh hưởng đến trật tự công cộng, gây ách tắc giao thông dọc đường ĐT 382 làm nhiều phương tiện giao thông không di chuyển được, làm đình trệ hoạt động buôn bán kinh doanh của các tiểu thương trong chợ đầu mối Đ.

    Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo qui định tại điểm c khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng trong Cáo trạng số: 63/CT-VKS-KC ngày 28/6/2024 là có căn cứ, đúng người đúng tội và đúng pháp luật.

    Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự.

    Trong vụ án này bị cáo H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội độc lập, không có người giúp sức, xúi giục hay tham gia cùng thực hiện hành vi phạm tội.

    Đối với hành vi của Phạm Văn Đ2, quá trình điều tra xác định khi xảy ra sự việc vào thời điểm lúc 02 giờ ngày 23/12/2023, nguyên nhân khiến chiếc xe ô tô tải do Đ2 điều khiển không di chuyển được là do bị xe ô tô tải do H điều khiển lấn chiếm đường khiến đường bị tắc, vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với Phạm Văn Đ2 nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

  4. [4]. Đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

    - Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Hữu H chưa có tiền án, tiền sự.

    - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã 3 lần cố ý dừng đỗ xe không đúng quy định gây ảnh hưởng đến trật tự công cộng, gây ách tắc giao thông dọc đường ĐT 382 làm nhiều phương tiện giao thông không di chuyển được, làm đình trệ hoạt động buôn bán kinh doanh của các tiểu thương trong chợ đầu mối Đ. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

    - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải; Gia đình bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và được chính quyền địa phương xác nhận; Bố bị cáo là thương binh 4/4 và được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì; Bị cáo có 02 chú ruột là liệt sĩ, bà nội bị cáo được nhà nước phong tặng danh hiệu “Mẹ Việt Nam anh hùng”. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

  5. [5]. Về hình phạt: Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, với đặc điểm nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã phân tích ở trên thấy cần thiết phải cho cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

  6. [6]. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của BLTTHS, xử lý như sau:

    - Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M53 5G vỏ màu xanh, bên trong chứa 01 sim thẻ Viettel 4G mà cơ quan điều tra thu giữ, trong quá trình điều tra kiểm tra điện thoại của bị cáo không có video hay hình ảnh nào liên quan đến việc bị cáo ghi lại việc gây rối tại chợ Đ3 nên cần trả lại chiếc điện thoại này cho bị cáo.

    - Đối với chiếc xe ô tô biển số 29G-019.75, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của anh Nguyễn Trung T thuê H lái xe chở cát cho Công ty T7 thuộc thôn L, xã L, huyện Y. Anh T không biết H sử dụng xe làm phương tiện để phạm tội, do vậy ngày 10/01/2024 Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe nêu trên cho anh T, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

  7. [7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

  8. [8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của BLTTHS.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm c Khoản 2 Điều 318; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  3. Mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024.
  4. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M53 5G vỏ màu xanh, bên trong chứa 01 sim thẻ Viettel 4G.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số: 48/QĐ-VKSKC ngày 28/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu).

  1. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Hữu H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKS, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên;
  • - Viện kiểm sát, Công an huyện Khoái Châu;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Khoái Châu;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Hàm Tử;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tiến Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HSST ngày 25/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên về hình sự (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 57/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA hình sự Nguyễn Hữu H tội Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger