Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA VIỄN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 57/2024/HS-ST

Ngày 26 - 09 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đinh Xuân Tưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hà Xuân Ninh.
  2. Ông Đinh Duy Quyết.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Trần Hồng Minh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26/09/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/TLST - HS, ngày 09/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST - HS ngày 12/9/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Q, tên gọi khác: Không, sinh năm 1988 tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn X, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: công Nhân; giới tính: nam; trình độ văn hoá: lớp 9/12; quốc tịch Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Á; vợ, con : chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: cháu Đỗ Việt H, sinh năm 2011; nơi cư trú: thôn X, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp cho bị hại: anh Đỗ Quang H1, sinh năm 1989 và chị Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1991; đều trú tại: thôn X, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (có mặt anh H1, vắng mặt chị T1).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: bà Ninh Thị Thu H2, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp ly tỉnh N (có mặt).

Người làm chứng : anh Nguyễn Quang Q1, Nguyễn Đức H3, ông Nguyễn Văn C, cháu Phạm Duy N, cháu Nguyễn Minh N1 và anh Lê Văn H4 (đều vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 29/4/2024, sau khi ăn cơm, uống rượu ở nhà hàng xóm về, Nguyễn Văn Q đi đến nhà anh Nguyễn Văn Q2, sinh năm 1983, trú tại thôn X, xã G, huyện G (là anh trai của Q) ngồi chơi uống nước. Tại nhà anh Q2, Q ngồi uống nước, nói chuyện cùng với các anh Nguyễn Đức H3, sinh năm 1985, anh Lê Văn H4, sinh năm 1975 và anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1966 đều trú tại thôn X, xã G tại bộ B1 bằng bê tông của thôn X kê gần mép đường B-B trên lối vào cổng nhà anh Q2. Lúc này, ở gần bàn uống nước có các cháu Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2011 (con trai anh Q2), cháu Đỗ Văn T2, sinh năm 2010, cháu Phạm Nhất D, cháu Nguyễn Minh N1, đều sinh năm 2011 và cháu Đỗ Việt H, sinh ngày 21/3/2011 (các cháu đều trú tại thôn X, xã G, huyện G và là các bạn của cháu Đ) đang chơi nô đùa và và đốt lửa nướng khoai ở lối vào cổng nhà anh Q2. Do thấy các cháu nhỏ chơi ồn ào, anh Q2 quát bảo các cháu không nghịch nữa và đi về nhà ngủ, nhưng các cháu không đi về nhà mà chỉ đi bộ ra sát mép đường B - B cách vị trí bộ bàn ghế uống nước 5-6m rồi tiếp tục đốt lửa và nô đùa với nhau. Khi Q đến ngồi uống nước được ít phút, anh Q2 nhờ Q quát bảo các cháu đi về thì Q chửi tục và quát to: “Chúng mày cút xéo hết cho bố mày ngồi uống nước”. Thấy vậy, cháu Đ bảo các bạn đi về còn Đ thì chạy vào nhà mình, còn các cháu H, T2, D, N1 cũng không chơi nữa nhưng vẫn chưa đi về thì Q tiếp tục quát “Chúng mày có cút về không”. Cháu H lúc này đang lấy xe đạp để ở gần vị trí đốt lửa nướng khoai lúc trước nghe thấy vậy liền cãi lại: “Cháu không cút, thì làm sao?”. Q liền đứng dậy chửi tục và quát “Mày dọa tao à?” rồi chạy đến chỗ H. Thấy vậy H quay đầu bỏ chạy ra phía đường B - B về phía ngã tư đường liên thôn X, xã G. Khi cháu H chạy được 2-3 bước thì bị Q đuổi tới dùng tay túm được áo phía sau của cháu H. Q kéo quay người cháu H lại đối diện với Q rồi dùng hai tay túm vào cổ áo phía trước cháu H, sau đó Q sử dụng chân phải của mình gạt chân cháu H theo chiều từ phải sang trái làm cháu H ngã ngửa người, vùng sau đầu và lưng đập xuống nền đường bê tông làm cháu H bị thương bất tỉnh. Thấy vậy, Q sử dụng tay phải đỡ phần sau đầu cháu nâng lên thì thấy có máu chảy ra tay mình nên Q đã gọi những người đang ngồi uống nước đến giúp. Q bế cháu H vào cạnh bàn uống nước nằm nghỉ thì cháu tỉnh và ngồi ở ghế. Sau đó vợ anh Q2 là chị Phan Thị B, sinh năm 1987, trú tại thôn X, xã G cùng cháu Đ đưa cháu H vào trong nhà mình, còn Q và những người có mặt ở đó đã gọi xe ô tô đến đưa cháu H đi cấp cứu. Sau khi sự việc xảy ra, anh Đỗ Quang H1, sinh năm 1989, trú tại thôn X, xã G (là bố đẻ của cháu H) đã trình báo sự việc lên Công an xã G, huyện G.

Hậu quả: Cháu Đỗ Việt H bị 01 vết thương rách da chảy máu vùng đỉnh phải kích thước (1x2)cm, vỡ xương sọ vùng đỉnh phải, tụ máu ngoài màng cứng và dưới màng cứng vùng đỉnh phải, chẩn đoán: Chấn thương sọ não, cháu H phải cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện sản nhi tỉnh N và Bệnh viện Đ2 đến ngày 07/5/2024 thì ra viện.

Ngày 13/6/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện G ra Quyết định trưng cầu giám định số 524/QĐ-ĐTTH trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh N giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Đỗ Việt H do thương tích gây nên. Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 081/KLTTCT-TTPY ngày 25/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Đỗ Việt H, sinh năm 2011 tại thời điểm giám định là: 57%; Cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương do vật tầy trực tiếp gây nên”.

Tại Bản cáo trạng số 56/CT- VKS- GV, ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn để xét xử về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa anh Đỗ Quang H1 đại diện hợp pháp cho bị hại trình bầy: đồng ý với quan điểm truy tố bị cáo Q về tội: “ Cố ý gây thương tích” của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn. Về trách nhiệm dân sự đề nghị bị cáo Q đã tự nguyện bồi thường cho cháu Đỗ Việt H số tiền 80.000.000đ, gia đình cháu H đã nhận đủ, không yêu cầu bị cáo Q phải bồi thường thêm một khoản tiền nào khác, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Q.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có bài phát biểu quan điểm đồng tình với bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn. Về trách nhiệm dân sự bị cáo đã bồi thường cho bị hại 80.000.000đ, bị hại đã nhận đủ không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để đưa ra một hình phạt đúng người đúng tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 21 giờ ngày 29/4/2024 bị cáo Nguyễn Văn Q ngồi uống nước ở nhà anh Nguyễn Văn Q2 (anh trai bị cáo Q) ở thôn X, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình cùng các anh Lê Văn H5, Lê Văn H4 và Nguyễn Văn C, thì có các cháu Nguyễn Văn Đ, Đỗ Văn T2, Phạm Nhất D, Nguyễn Minh N1 và cháu Đỗ Việt H đang chơi nô đùa và đốt lửa nướng khoai trước cổng nhà anh Q2, thấy các cháu nô đùa mất trật tự. Bị cáo Q quát mắng, chửi đuổi các cháu về, cháu H có cãi lại: “Cháu không cút thì làm sao”, bị cáo Q liền đứng dậy chạy đến chỗ cháu H dùng tay túm cổ áo cháu H kéo cháu H quay người lại đối diện với bị cáo Q, đồng thời dùng chân gạt chân cháu H làm cháu H ngã ngửa người ngã, vùng đầu và lưng đập xuống đường hậu quả cháu H bị thương bất tỉnh đi cấp cứu tại bệnh viện sản nhi tỉnh N và bệnh viện Đ2 đến ngày 07/5/2024 ra viện.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 081/KLTTCT-TTPY ngày 25/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Đỗ Việt H, sinh năm 2011 tại thời điểm giám định là: 57%; Cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương do vật tầy trực tiếp gây nên”. Với hành vi bị cáo Q dùng dùng tay túm cổ áo cháu H, đồng thời dùng chân gạt chân cháu H, làm cho cháu H bị ngã xuống đường bị thương với tỷ lệ tổ thương cơ thể của cháu H là 57% đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích” được qui định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn truy tố là có căn cứ đúng pháp luật.

Điều 134: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

...

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã bồi thường cho cháu H 80.000.000đ. Cháu H và gia đình cháu H có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ông ngoại bị cáo là ông Nguyễn Xuân K là liệt sỹ trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước được Nhà nước tặng thưởng huân chương chiến sỹ vẻ vang. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân tốt từ trước cho đến nay chưa có vi phạp pháp luật gì

[4] Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đề nghị là tương xứng với hàng vi phạm tội của bị cáo, đủ nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân sống có ích cho gia đình, xã hội. Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt từ trước cho đến nay chưa có vi phạm pháp luật gì, có nơi có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: sau khi gây thương tích cho cháu Đỗ Việt H, bị cáo Nguyễn Văn Q đã tự nguyện bồi thường cho cháu H số tiền 80.000.000 đồng. Gia đình cháu H đã nhận đủ và không yêu cầu bị cáo Q phải bồi thường gì thêm. Vì vậy về trách nhiệm dân sự trong vụ án này Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

[6] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn Q 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/09/2024. Giao bị cáo Q cho UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo Q có trách nhiệm phối hợp với UBND xã G giám sát giáo dục bị cáo Q.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Điều 92 luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn Q phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Người phải thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Toà án tỉnh Ninh Bình;
  • - CQĐT Công an huyện Gia Viễn;
  • - Thi hành án dân sự H. Gia Viễn;
  • - Viện kiểm sát H. Gia Viễn;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi liên quan;
  • - Lưu HS, VP.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đinh Xuân Tưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 57/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Quang PT Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger